26 tháng 12, 2012

Những người bảo tồn Mỹ Sơn trong thế kỷ XX

Những người có công lớn trong việc nghiên cứu và bảo tồn khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn

Năm 1980, thời còn là sinh viên, lần đầu tiên đặt chân đến thung lũng Mỹ Sơn tôi đã cảm nhận được của sự uy nghiêm trầm mặc của một khu đền thờ Ấn Độ giáo đang bị bao phủ bởi cây rừng. Những lùm cây bụi um tùm và dây leo các loại quấn chằng chịt, gần như che khuất các công trình kiến trúc bằng gạch một thời vang bóng của vương quốc đã suy tàn...
Mặc dù trước đó, vào năm 1978, việc phát quang và rà phá bom mìn đã được chính quyền địa phương thực hiện, vậy mà chỉ sau hai mùa mưa, cây cối đã mọc lại  gần như phủ kín khu tháp. Lần vạch tìm lối đi giữa đám cây rừng chằng chịt, mới hiểu được phần nào sự gian nan, nguy hiểm của những người lần đầu tiên đến “đánh thức” giấc ngủ ngàn năm khu đền tháp linh thiêng nầy.
Khi về làm việc tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, tôi mới có dịp được hiểu thêm về những người đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu và bảo tồn khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn.
Vào năm 1885, một toán lính Pháp đã tình cờ phát hiện ra khu tháp Chăm bị bao phủ bởi cây rừng. Năm 1896, Camille Paris -cựu nhân viên bưu chính- đã tổ chức phát quang khu tháp này để khảo sát và dập lại chữ khắc trên một số bi ký. Năm 1898-1899, hai học giả Pháp là Louis Finot -vị giám đốc đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO)- và Lunet De Lajonquière đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu các văn bia (1).
Đầu thế kỷ XX, Henri Parmentier -kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ- cùng với Charles Carpeaux -nhân viên của EFEO- đã được cử đến Mỹ Sơn để nghiên cứu về kiến trúc và nghệ thuật. Ngày 22/12/1902, tại Hà Nội, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định đề cập đến việc «tạm ứng một số tiền 1500 đồng, giao cho ông Henri Parmentier, người có trách nhiệm sử dụng nó đúng vào mục đích khai quật khảo cổ học ở miền Trung Việt Nam» (2). Khoản ngân sách được cấp đó đã giúp các ông có điều kiện tổ chức phát dọn cây cối và khai quật 2 khu di tích Champa lớn ở Quảng Nam là Mỹ Sơn và Đồng Dương...
H. Parmentier  sinh năm 1871 tại Paris, Pháp, ông tốt nghiệp ngành kiến trúc tại École des Beaux-arts de Paris (Trường Mỹ thuật Paris). Tháng 11 năm 1900 ông sang Đông Dương làm việc tại EFEO, đảm nhận việc nghiên cứu và trùng tu các di tích tại Đông Dương.
Những công trình nghiên cứu đầu tiên và cơ bản nhất về bi ký và kiến trúc tại Mỹ Sơn được L. Finot và H. Parmentier công bố trong kỷ yếu của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (BEFEO) năm 1904.
Theo nhật ký của C. Carpeaux và báo cáo khai quật của H. Parmentier, 2 ông đến Mỹ Sơn trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, lúc bấy giờ chưa có đường sá, xe cộ, phương tiện đi lại chủ yếu là dùng ngựa, nhiều đoạn phải đi bộ...
Sinh hoạt của họ tại khu di tích cực kỳ khó khăn. Những ngôi tháp nằm phân tán trong một khu vực rộng lớn bị cây cây rừng phủ kín. Không khi trong thung lũng rất ngột ngạt, nóng bức cùng với nhiều loại côn trùng, rắn rết đáng sợ lẫn thú dữ luôn rình rập đã ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của Carpeaux và nhiều công nhân. Chỉ có Parmentier thích nghi được với điều kiện khắc nghiệt đó. Theo nhật ký của Carpeaux, họ đã làm một ngôi nhà bằng gỗ để ở, xung quanh dựng hàng rào cao 4m để đề phòng thú dữ tấn công, vậy mà có lần một người công nhân của họ đã bị cọp tấn công và tha đi mất trong đêm tối khiến mọi người hoảng sợ...(3)
          Ngoài cọp thì chắc chắn heo rừng đã từng sinh sống ở rừng Mỹ Sơn. Trong số những bức phù điêu chạm trên bệ thờ Mỹ Sơn E1, có cảnh diễn tả một con cọp đang vồ con heo rừng rất sinh động. Những năm chiến tranh ác liệt, bom đạn cày xới khu vực nầy nầy nên có lẽ cọp đã bỏ chạy vào tận rừng sâu, chỉ có heo rừng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện. Những năm 80 của thế kỷ XX, trong thời gian tham gia trùng tu Mỹ Sơn, tôi đã có lần thấy heo rừng lang thang dọc đầu nguồn khe Thẻ...
Trong điều kiện thiều thốn, khó khăn và không kém phần nguy hiểm, một số công nhân đã bỏ đi, C. Carpeaux khi có dịp thì lại về Đà Nẵng nghỉ dưỡng, riêng H. Parmentier vẫn miệt mài làm việc ngày nầy qua ngày khác trong vùng sơn lam chướng khí. Từ 11/3/1903 đến 3/2/1904, H. Parmentier và các cộng sự đã cơ bản hoàn tất công tác khảo sát, thống kê, đạc họa, chụp ảnh các công trình kiến trúc, nghiên cứu các tác phẩm điêu khắc ở Mỹ Sơn...
Mặc dù trong điều kiện thiếu thốn các phương tiện kỹ thuật, những bản đạc họa của Parmentier tại Mỹ Sơn vẫn được thể hiện rất chi tiết và khá chính xác, hàng trăm bản vẽ mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt các tháp Chăm cùng họa tiết trang trí đã trở thành những tài liệu vô cùng quý giá cho các nhà nghiên cứu và trùng tu di tích. Năm 1904, ông đã công bố công trình “Les monuments du cirque de Myson”(Những di tích trong thu lũng Mỹ Sơn) trong kỷ yếu của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (BEFEO). Công trình nghiên cứu kế tiếp của ông với tựa đề “Inventaire descriptif des monuments Cam de l’Annam” (Kiểm kê khảo tả các di tích Chăm ở An Nam) đã được xuất bản vào năm 1909, có thể nói, cho đến nay, tác phẩm nầy vẫn là tài liệu tham khảo cơ bản và quan trọng nhất về văn hóa Chăm.
Trong thời gian từ 1937 đến 1944, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã trùng tu các tháp thuộc nhóm A, A', B, C, D. Năm 1939, một đập nước được xây dựng để chuyển dòng con suối lớn để ngăn ngừa nước lũ tàn phá một số tháp ở nhóm A, đập nước được hoàn thành vào năm 1941, nhưng đáng tiếc một trận lũ lớn năm 1946 đã phá hủy đập nước này...
Ngoài ra còn phải kể đến sự đóng góp của các học giả khác như George Coedès với “Inventaire des inscriptions du Champa et du Camboge” (Kiểm kê các bi ký Champa và Camboge) (1908), “Notes sur les deux inscriptions du Champa” (Ghi chú về 2 bi ký Champa) (1912);  Philippe Stern qua các công trình nghiên cứu như “L’art du Champa” (Nghệ thuật Champa) (1939), “L’art du Champa (ancien Annam) et son évolution” (Nghệ thuật Champa (An Nam cổ) và sự tiến hóa của nó) (1942); Jean Bosselier với tác phẩm “La statuaire du Champa, Recherches sur les cultes et l’iconographie” (Nghiên cứu điêu khắc Chăm qua tôn giáo và tiếu tượng học) (1963)...
Những tác phẩm điêu khắc tiêu biểu được tìm thấy tại Mỹ Sơn trong các cuộc khai quật ở những năm đầu thế kỷ XX đã được chuyển về Đà Nẵng, đặt tại công viên thành phố. Trên khu đất nầy, năm 1915 người Pháp đã xây dựng một công trình kiến trúc đặc sắc để trưng bày các tượng Chăm được sưu tầm ở miền Trung Việt Nam. H. Parmentier là người có công lớn trong việc tổ chức trưng bày cho bảo tàng nầy, chính vì thế ban đầu bảo tàng nầy được gọi là Musée Henri Parmentier.
Bên cạnh các học giả Pháp, có một người Việt Nam đã từng làm việc tại Mỹ Sơn vào những năm đầu của thế kỷ XX, đó là nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đồng, ông là một trong rất ít những người Việt Nam cộng tác với các học giả Pháp để trùng tu các di tích Chăm-pa từ năm 1930 đến 1944. Nguyễn Xuân Đồng sinh năm 1910 tại Bắc Ninh, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương, ông làm việc tại Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp từ năm 1928 với nhiệm vụ là chuyên viên khảo cổ. Nguyễn Xuân Đồng là trợ thủ đắc lực của H. Parmentier trong việc nghiên cứu, phân loại và trưng bày các tác phẩm điều khắc Chăm. Ông được EFEO bổ nhiệm làm quản thủ của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng từ năm 1938 đến năm 1965. Khi nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục là cộng tác viên tích cực của bảo tàng cho đến ngày ông qua đời (1986). Với những kiến thức sâu sắc về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm của mình, ông đã giúp đỡ không ít cho một số cán bộ nghiên cứu tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm thời bấy giờ nâng cao hiểu biết về văn hóa Champa ...
Sau năm 1945, chiến tranh ngày càng ác liệt, việc trùng du di tích Chăm không thể tiếp tục, khu đền tháp Mỹ Sơn lại một lần nữa bị cây rừng phủ kín, mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu và bảo tồn của các nhà khoa học trong những năm đầu thế kỷ XX đã đặt nền tảng vững chắc cho công việc tìm hiểu nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Champa cũng như nghiên cứu bảo tồn, tu bổ các đền tháp Chăm sau này...
Sau năm 1975, ở Mỹ Sơn có khoảng 20 tháp còn giữ được hình dạng, nhưng không có cái nào nguyên vẹn. Để phục vụ cho công tác kiểm kê, khảo sát và trùng tu di tích, năm 1978, công việc phát quang và tháo gỡ mìn đã được tiến hành, 11 người bị mang thương tích và 6 người khác vĩnh viễn nằm xuống để đem lại bình yên cho mảnh đất này, sự hy sinh nầy mặc dù thầm lặng, không có bất kỳ một dòng ghi danh nào trên bi ký nhưng mãi sẽ khắc sâu vào ký ức của người thừa hưởng di sản vô giá nầy.
Từ năm 1982 đến năm 1992, chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam-Ba Lan được thực hiện, kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski (tên thân mật thường gọi là Kazik) đã trực tiếp tham gia và chỉ đạo về mặt kỹ thuật. Là một người có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực trngf tu di tích ở châu Âu, Kazit rất thận trọng khi thực hiện việc tu bổ một loại hình kiến trúc còn mới lạ. Ông vận dụng những nguyên tắc của trường phái trùng tu “Khảo cổ học” vào việc tu bổ khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn. giữ gìn tối đa các yếu tố gốc, đồng thời không làm lẫn lộn các thành phần nguyên gốc với các thành phần mới đưa vào để chống đỡ, gia cường cho kiến trúc. Tôi và một số cán bộ làm công tác Bảo tồn-Bảo tàng hồi đó ở QN-ĐN có may mắn được làm việc với Kazik, học được ở ông tính thận trọng, khoa học và cầu thị, luôn tham khảo ý kiến nhiều người rồi mới thực hiện. Trong suốt 10 năm, mỗi năm 3 tháng Kazik đến với Mỹ Sơn và các di tích Chăm khác ở miền Trung, không nề hà nắng mưa, cực khổ, ông cùng ở và làm việc tại Mỹ Sơn như một người dân bản xứ, thông thuộc từng con đường mòn trong thung lũng. Sự làm việc tận tụy, không nề hà gian khổ và lòng nhiệt huyết vì di sản văn hóa của ông đã “truyền lửa” cho những người tham gia trùng tu Mỹ Sơn thời ấy...
Sau 10 năm được gia cố tu sửa, trung tâm kiến trúc bậc nhất của nghệ thuật Champa bắt đầu hồi sinh, Mỹ Sơn đã được trả lại phần nào dáng vẻ trước kia của nó, làm cho ta có thể hình dung được một đền  thờ Ấn Độ giáo uy nghiêm kỳ vi của vương quốc Champa trong quá khứ. Trong thời gian này, nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị đã tiếp tục được tìm thấy, tất cả đang được trưng bày tại Mỹ Sơn.
Là một phế tích khảo cổ học, do vậy việc bảo tồn, tu bổ tôn tạo khu di tích Mỹ Sơn khá phức tạp. Ngoài những tài liệu ghi chép, những bản vẽ trước đây của nhà nghiên cứu nước ngoài như H. Parmentier, Ph. Stern, J. Boisselier... và một số công trình của các nhà nghiên cứu trong nước về vấn đề kiến trúc và điêu khắc; còn một số vấn đề khác cần được nghiên cứu bổ sung như địa chất, thuỷ văn, môi trường, các phế tích còn bị chôn vùi dưới lòng đất từ xa xưa, lập bản đồ hiện trạng khu vực một cách chính xác... Với yêu cầu cao của công việc, Bộ Văn hoá Thông tin đã hợp tác với tổ chức Lerici Foundation (Italia) thực hiện dự án Thông tin Địa lý - GIS (Geographie Information System) tại Mỹ Sơn từ tháng 3 năm 1999.  GIS là hệ thống quản lý thông tin không gian được phát triển trên cơ sở công nghệ máy tính với mục đích lưu trữ, hợp nhất, mô hình hoá, phân tích và miêu tả nhiều loại dữ liệu. Dự án hợp tác giữa Việt Nam – UNESCO và Italia đã và đang tiếp tục được thực hiện tại Mỹ Sơn với mục tiêu “Bảo tồn, tu bổ cấp thiết một số hạng mục thuộc khu đền tháp Mỹ Sơn”.
 Trong số những nhà khoa học Italia có đóng góp rất lớn vào việc nghiên cứu và tu bổ di tích Mỹ Sơn trong những năm cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI phải kể đến đó là bà Patrizia Zolese- một nhà khảo cổ và là nhà trùng tu di tích đầy nhiệt huyết. Ai đã tiếp xúc một lần với bà chắc sẽ khó quên nhà khoa học nầy, bên cạnh sự đam mê nghiên cứu và luôn muốn lôi kéo người khác vào công việc, bà còn được người ta nhớ lâu bởi tính nói nhiều của bà, đã gặp là “nổ” như bắp rang, không phải những chuyện  linh tinh thường ngày mà là chuyện khảo cổ, chuyện trùng tu di tích. Trong quá trình trùng tu nhóm tháp G tại Mỹ Sơn, các nhà khoa học đã biên soạn  công trình nghiên cứu “Hướng dẫn khảo cổ và trùng tu tháp Chăm-tư liệu đúc kết từ dự án trùng tu tôn tạo nhóm tháp G”. Tài liệu này cung cấp thêm những kinh nghiệm quý giá cho công tác bảo tồn, tu bổ các công trình kiến trúc Champa tại Việt Nam. Một tác phẩm khác về Mỹ Sơn có sự tham gia của Patrizia Zolese dó là “Champa and the Archeaology of Mỹ Sơn (Vietnam)” đã được xuất bản năm 2009, đây là một tài liệu quan trọng về khảo cổ học tại Mỹ Sơn trong thế kỷ XX...
Công việc bảo tồn Khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn còn nhiều việc phải làm, trong tương lai chắc hẳn với trình độ khoa học công nghệ ngày càng phát triển, sẽ có nhiều nhà khoa học, nhiều giải pháp kỹ thuật khác sẽ được áp dụng vào việc tu bổ di sản văn hóa nầy, tuy nhiên những đóng góp của các nhà khoa học ở thế kỷ XX vẫn là nền tảng và là cơ sở vững chắc để các thế hệ kế tiếp sứ mạng vinh quang- Bảo tồn di sản văn hóa nhân loại...

-------------
Tài liệu dẫn:
(1) Emmanuel Guillon- Art et Archéologie du Champa une ancienne civilisaton du Viet Nam.  Picard - Paris 2011, p. 88
(2), (3)  Pierre Baptiste- The Archaeology of Ancient Champa: The French Excavations-  Champa and the Archeaology of Mỹ Sơn (Vietnam), NUS Press, Singapore 2009, p.14-25

 


Phát dọn di tích Mỹ Sơn đầu thế kỷ XX

H. Parmentier và C. Capeaux

Ông Nguyễn Xuân Đồng

Kazik

Patrizia Zolese và Tư Cận

21 tháng 12, 2012

Em đi bỏ mặc con đường

Em đi bỏ mặc con đường(*)
Để ta ở lại sầu tương nửa đời
Sông Hàn về với biển khơi
Vẫn con đò nhỏ ru lời trăm năm
Sơn Trà mây phủ trầm ngâm
Hải Vân ngàn dặm mù tăm chim trời
Dập dềnh sóng vỗ xa khơi
Cánh buồm viễn xứ biết nơi nào tìm
Phố xưa còn đó trong tim
Hỏi em có thấu nổi niềm Hàn giang?...
-----------------
(*) Tựa một bài hát của Trịnh Công Sơn

12 tháng 12, 2012

Ám ảnh

Ám ảnh

Vầng trăng
ám ảnh trời đêm
Hạt nắng
ám ảnh bên thềm hoa xưa
Giọt mưa
ám ảnh sang mùa
Mắt em
ám ảnh cho vừa đam mê...

Chớm đông

Chớm đông

Đông chớm sang rồi em có hay
Lá khô xào xạc đã bao ngày
Đường mưa xa thẳm mờ nhân ảnh
Một thoáng u hoài đôi mắt say

Ta như một kẻ lưu đày
Ngày đông nâng chén men cay ngậm ngùi

Tơ tằm Quảng Nam trong con đường tơ lụa trên biển


Tơ tằm Quảng Nam trong “Con đường tơ lụa” trên biển.


Năm 1877, sau những chuyến nghiên cứu khảo sát tuyến đường giao thương trên đường bộ thời cổ đại giữa Trung Quốc và phương Tây, nhà địa lý học người Đức Ferdinand von Richthofen nhận thấy loại hàng hóa chủ yếu được buôn bán, vận chuyển trên tuyến đường nầy là tơ lụa nên đã đưa ra thuật ngữ Con đường tơ lụa [die Seidenstrasse (tiếng Đức), The Silk Road (tiếng Anh)](1). Về sau, các nhà khoa học đều dùng tên gọi con đường tơ lụa để chỉ tuyến đường giao thương thời cổ đại xuất phát từ Trung Quốc qua vùng Nam Á, Tây Á nối liền sang châu Âu và bắc Phi, bao gồm tuyến đường trên bộ và trên biển.

Là vùng đất đa dạng về tự nhiên, có bờ biển dài, đồng bằng tương đối rộng, rừng núi bạt ngàn..., lại là nơi giao lưu, hội tụ của nhiều nền văn hóa, từ thế kỷ XV-XVI, Quảng Nam đã có những nét đặc trưng riêng của vùng đất phên giậu  thời cha ông ta đi mở cõi về phương Nam.
Ở Quảng Nam thời bấy giờ, bên cạnh kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, các ngành nghề thủ công cũng phát  triển, hình thành các làng nghề nổi tiếng; có thể kể đến các làng dệt Mã Châu, Trung Lương, Thi Lai, Hà Mật, Đông Bàn... Làng chiếu cói Bàn Thạch, làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, làng mộc Vân Hà, làng làm trống Lâm Yên, làng đúc đồng Phước Kiều; đặc biệt có làng nghề yến ở Thanh Châu (Hội An), người dân Thanh Châu đã biết khai thác loại yến sào quý giá ở vùng Cù Lao Chàm từ xa xưa. Sản phẩm các làng nghề nầy đã đến với người tiêu dùng nhiều nơi trong và ngoài nước... Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã dẫn theo lời một thương gia Trung Hoa họ Trần: "Thuyền từ vùng Sơn Nam về, người ta chỉ mua được một món hàng hóa là củ nâu mà thôi. Thuyền từ kinh thành Thuận Hóa về cũng chỉ mua được một thứ hàng là hồ tiêu. Còn thuyền từ miền Quảng Nam về thì trăm thứ hàng hóa thứ gì cũng có ..."  (2)
Trong các nghề thủ công truyền thống đã tạo nên diện mạo cho vùng đất Quảng Nam, nghề nuôi tằm - dệt lụa không chỉ góp phần phát triển kinh tế cho địa phương, mà còn là thứ hàng hóa đã làm nên thương hiệu tơ lụa Quảng Nam được cư dân các vùng đất xa xôi khác ưa chuộng...
Cách nay khoảng 300 năm, tại huyện Đại Lộc, một số làng nằm ở ven sông Vu Gia như Giao Thủy, Quảng Huế, Phước Bình, Hà Nha..., nhờ các bãi bồi ven sông đầy ắp phù sa, bên cạnh nghề trồng rau, đậu, lúa, bắp, thuốc lá, người dân nơi đây đã chú trọng đến nghề trồng dâu nuôi tằm:
Con tằm Đại Lộc xe tơ
Bãi dâu Đại Lộc lờ mờ bên sông…
Làng dâu tằm Đại Bình (xã Quế Trung huyện Nông Sơn) có từ lâu đời, ra đời cách đây khoảng 300-400 trăm năm. Vùng đất nầy mặc dù thường xuyên bị lụt lội, nhưng lại được phù sa bồi đắp hàng năm rất thích hợp với việc trồng cây dâu, với ưu thế nầy cư dân vùng đất nầy đã nuôi tằm ươm tơ để bán cho các làng dệt ở đồng bằng, trong đó chủ yếu là ở Duy Xuyên.
Nghề ươm tơ dệt lụa ở các làng Đông Yên, Thi Lai (Duy Trinh, Duy Xuyên) ra đời từ thế kỷ 16, gắn liền với sự tích Bà chúa Tàm tang Đoàn Quý Phi và thế tử Nguyễn Phúc Loan. Cho đến nay trong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về nàng thôn nữ họ Đoàn. Vào một đêm trăng thanh gió mát, tiếng hát trong trẻo bên nương dâu làm xao xuyến công tử Nguyễn Phước Lan (sau này là chúa Thượng) đang cùng cha dong thuyền trên dòng sông Thu Bồn, vội ghé đậu vào ghềnh Điện Châu. Tại đây, chúa Thượng đã gặp gỡ nàng thôn nữ hái dâu họ Đoàn. Xuất thân từ một cô gái làm nghề trồng dâu nuôi tằm, sau khi trở thành Quý Phi của chúa Thượng, bà đã khuyến khích nông dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa lúc bấy giờ chú trọng phát triển nghề nuôi tằm dệt lụa, nhờ đó mà nghề tằm tang - dệt lụa ở xứ Đàng Trong có điều kiện mở namg.
Làng dệt lụa Mã Châu hình thành từ thế kỷ 15, bên cạnh kinh đô Trà Kiệu, sản phẩm lụa Mã Châu đã nổi tiếng từ bao đời nay  Trải qua bao biến động, thăng trầm, nghề dệt vẫn được truyền lưu giữ trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Mã Châu con gái mỹ miều
Sớm mai dệt lụa, buổi chiều ươm tơ
Theo Lê Quý Đôn “... xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Người Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải lụa, vóc, đoạn, lĩnh, là, hoa màu khéo đẹp chẳng kém Quảng Đông...”(3)

Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, phương tiện đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên quốc gia thường phải kéo dài trong nhiều tháng; những hòn đảo lớn rải rác trên biển là nơi tàu bè các nước thường ghé lại để nghỉ ngơi, lấy thêm lương thực, nước ngọt, tránh gió bão. Nằm trên trục giao thông đường biển nối liền các trung tâm buôn bán lớn của các quốc gia ở vùng Đông Nam Á và Trung cận Đông, đồng thời cách không xa đất liền, nơi có Đại Chiêm Hải khẩu- cảng biển quan trọng nhất nhì của vương quốc Champa, Cù Lao Chàm là điểm dừng chân rất thuận tiện của thương thuyền các nước, tại đây họ không chỉ dừng chân vì những nguyên nhân như đã nói mà còn có thể  mua thêm những sản phẩm nổi tiếng của xứ Champa như trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, đồi mồi, tơ lụa,... Tại Cù lao Chàm các nhà khảo cổ đã phát hiện được dấu hiệu của hoạt động mậu dịch hàng hải. Tại bãi Làng, các nhà khảo cổ đã khai quật được nhiều mảnh gốm thời Đường  có niên đại khoảng từ thế kỷ VII - X, một số mảnh gốm Islam của vùng Trung cận Đông (khoảng thế kỷ IX-X), nhiều mảnh gốm Chăm, nhiều mảnh của các loại đồ thủy tinh cao cấp có màu sắc rất đẹp, cùng với những hạt chuỗi thủy tinh được chế tác rất tinh vi(4). Theo các nhà khảo cổ, sự có mặt của các hiện vật nói trên, đã phản ánh quan hệ giao lưu buôn bán quốc tế ở vùng đảo nầy trong nhiều thế kỷ. Một số thư tịch cổ Trung Hoa như Tân Đưòng Thư, Địa lý Chí  cho biết vào khoảng giữa thế kỷ VII, thuyền buôn các nước vùng Tây Á như Ả Rập, Ba Tư ... thường xuyên đến Trung Quốc bằng con đường Nam Thái Bình Dương,  mang theo bạc khai thác ở vùng Ba Tư và Ả Rập; trên con đường đó họ đã ghé vào các cảng của Champa trong đó có Cù Lao Chàm để trao đổi mua bán; thuyền Trung Quốc đi đến các nước thế giới Ả Rập hoặc Nam Á cũng dừng chân ở Cù Lao Chàm và cửa Đại Chiêm; những di vật khai quật được từ lòng đất Hội An và Cù Lao Chàm như các loại gốm Islam có nguồn gốc từ vùng Trung Đông, một số loại đồ đựng bằng thủy tinh màu có nguồn gốc từ Tây Á, những hạt chuỗi thủy tinh có nguồn gốc ở Ấn Độ, Thái Lan, Mã Lai... đã chứng minh điều đó. Đến khoảng đầu thế kỷ VIII, các thương thuyền Trung Hoa tăng cường hoạt động ở vùng Đông Nam Á, do vậy thuyền buôn các nước vùng Tây Á không cần phải đến Trung Quốc, họ chỉ cần đến một số cảng lớn ở vùng Đông Nam Á là có thể mua được hàng hóa của Trung Quốc. Các thương gia Trung Quốc tìm mua các loại lâm thổ sản quý ở vùng Đông Nam Á và bán những sản phẩm truyền thống của họ được các nước khác ưa chuộng.
Trong nhiều thế kỷ, hoạt động hàng hải trên biển Thái Bình Dương rất nhộn nhịp, con đường giao thông trên biển nầy được gọi là Con đường tơ lụa trên biển hoặc con đường gốm sứ, bởi ngoài những mặt hàng như hồ tiêu, trầm hương..., tơ lụa và gốm sứ là hai loại hàng hóa không thể thiếu từ Trung Quốc và Việt Nam đi đến các nước Nam Á và Tây Á. Sau những chuyến vượt biển của đô đốc Trịnh Hòa (năm 1405-1430) từ Trung Quốc qua Đông Nam Á, đến Ấn Độ, Vịnh Ba Tư, các nước Ả Rập và những phát kiến địa lý của các nhà hàng hải phương Tây, đã nối liền con đường tơ lụa trên biển qua ba đại dương: Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Con đường tơ lụa trên biển hình thành đã mở ra một thời kỳ mới trong vấn đề giao lưu thương mại và giao lưu văn hóa giữa các nước phương Đông và phương Tây.

Nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, PGS. TS. Nguyễn Văn Kim (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng “... trước khi Nhật bản đặt quan hệ buôn bán chính thức với Việt Nam thì một số mặt hàng thủ công của Đại Việt đã được thương nhân nhiều nước biết đến. Từ năm 1517, khi đại diện đầu tiên của Bồ Đào Nha trên đường từ Malaca đến Trung Quốc đã mô tả về xứ Giao Chỉ: Nơi đây có những tơ lụa đẹp, hoàn hảo và cao cấp...”(5).  
Đến đầu thế kỷ XVI, sau khi quan hệ giao thương giữa  Nhật Bản và Trung Hoa bị hủy bỏ, đây là cơ hội cho các nước vùng Đông Nam Á giành thị phần; ở Việt Nam các cảng Vân Đồn, Đại Chiêm vẫn tiếp đón thương thuyền các nước. Tại Nhật Bản, nhu cầu sử dụng đồ tơ lụa và gốm sứ không ngừng gia tăng, nhưng lại thiếu hụt hai loại hàng hóa nầy bởi phần lớn trước đây được nhập từ Trung Quốc, do vậy tơ lụa và đồ gốm tráng men của Việt Nam càng được ưa chuộng hơn. Cũng theo Nguyễn Văn Kim “... được sự ủy nhiệm của Tokugawa Ieyasu, William Adam vốn là thuyền trưởng người Anh và là đại diện ngoại giao của Mạc Phủ đã bốn lần vượt biển đến Việt Nam ...”(6). Những chuyến đi nầy chắc hẳn không ngoài mục đích giao thương, tìm kiếm nguồn hàng mà người Nhật đang thiếu, trong đó tơ lụa là loại hàng hóa cần thiết cho việc may những bộ trang phục truyền thống của giới quý tộc Nhật Bản.
Theo giáo sư Hasebe Gakuji (Bảo tàng quốc gia Tokyo - Nhật Bản), vào thế kỷ XV-XVII, gốm sứ Việt Nam được nhập vào Nhật Bản rất nhiều, người Nhật thời bấy giờ rất thích gốm Chu Đậu. Những thuyền buôn Nhật Bản đến Việt Nam để mua tơ lụa, hương liệu, tạp hóa và một khối lượng lớn đồ gốm, trong đó có nhiều di vật vẫn còn được bảo quản tốt trong các gia đình dòng dõi Shôgun (Tướng quân), Daimyo (võ sĩ)(7).
Thế kỷ XVI-XVII là thời kỳ thịnh đạt của thương cảng Hội An, thuyền buôn nhiều nước đã đến buôn bán ở Hội An, trong đó có nhiều thương thuyền Nhật Bản, họ thường lưu lại Hội An từ 3 đến 4 tháng, vừa để mua gom hàng, vừa chờ gió mùa. Để thuận lợi cho việc buôn bán, một số thương gia Nhật mở thương quán ở Hội An để buôn bán giao dịch, có người còn lấy vợ Việt, tuy nhiên thời gian cư trú của người Nhật ở Hội An chỉ kéo dài đến nữa cuối thế kỷ XVII, hầu hết phải trở về Nhật Bản vì chính sách đóng cửa của Nhật Hoàng thời bấy giờ...
Qua các cuộc khảo sát, khai quật khảo cổ học, cho đến nay đã có 32 di tích khảo cổ học ở vùng Đông Nam Á phát hiện ra gốm Việt Nam: Malaisia có 9 địa điểm, Brunei có 02 địa điểm, Philippin có 10 địa điểm, Indonesia có 11 địa điểm (8), cùng với gốm sứ, có lẽ mặt hàng tơ lụa cũng được vận chuyển đến các địa điểm trên. Kết quả khai quật khảo cổ học đưới nước ở vùng biển Cù Lao Chàm vào những năm 1997 - 1999, tàu cổ Cà Mau 1998 -1999, tàu cổ Bình Thuận 2001 - 2002... đã cung cấp thêm nhiều cứ liệu về con đường tơ lụa nầy.
 
Mặc dù cho đến nay tư liệu về vai trò của tơ lụa Quảng Nam trong “Con đường tơ lụa trên biển” không nhiều, song có thể nói rằng, đã có một thời sản phẩm tơ lụa Việt Nam từng sánh ngang hàng với tơ lụa Trung Hoa, được người tiêu dùng Nhật Bản và một số nước ở Đông Nam Á ưa chuộng. Truyền thống đó là niềm tự hào và cũng là nguồn động viên để ngành tơ lụa Việt Nam nói chung và tơ lụa Quảng Nam nói riêng phục hồi và phát triển. Con đường phía trước chắc còn không ít gian nan nhưng với lòng yêu nghề và quyết tâm giữ nghề của các nghệ nhân nghề lụa, chúng tôi tin rằng, một ngày không xa thương hiệu tơ lụa Việt Nam, tơ lụa Quảng Nam sẽ lại vang xa như thời quá khứ vàng son của nghề nuôi tằm dệt lụa...


-------------
Tài liệu dẫn:
(1) Daniel C. Waugh. Richthofen’s “Silk Roads”: Toward the Archaeology of a Concept . The Silk Roads. Volume 5 Number 1 Summer 2007.
(2), (3) Lê Quý Đôn.: Phủ biên tạp lục. Lê Quý Đôn toàn tập. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 1977, tr 337.
(4) Lâm Mỹ Dung và cộng sự. Kết quả thám sát bãi Làng Cù Lao Chàm. Thông báo Khảo cổ học 1998.
(5), (6) Nguyễn Văn Kim. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVI-XVII (Góp thêm một số tư liệu và nhận thức mới). Nhật Bản với Châu Á... NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2003, tr 120-140

(7) Hasebe Gakuji. Tìm hiểu mối quan hệ Nhật - Việt qua đồ gốm sứ. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đô thị cổ Hội An.NXB Khoa học Xã Hội 1991, tr. 81-86
(8) Aoyagi Yoji. Đồ gốm Việt Nam đào được ở quần đảo Đông Nam Á.  Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đô thị cổ Hội An.NXB Khoa học Xã Hội 1991, tr. 113-119

Bình yên

Bình yên

Tìm đâu một chút bình yên
Đời người như thể con thuyền lênh đênh
Trần gian cõi sóng dập dềnh
Vô vi rồi sẽ lãng quên muộn phiền...


Mộng

Mộng
Hoàng hôn 
tím cả  giấc mơ
   rơi    xào    xạc
ngẫn   ngơ   mộng   đời
Đường xa một bóng chơi vơi
Cung tơ  réo rắc  rối  bời  chiều  đông...

Nửa đêm

Nửa đêm

Nửa đêm
nghe tiếng muôn trùng
Lời ru của mẹ
chập chùng đồi nương
Thoảng rơi
chiếc lá trong vườn
Bâng khuâng  chợt nhớ sầu tương  một đời.


Những yếu tố tự nhiên tác động đến các tháp Chăm


NHỮNG YẾU TỐ TỰ NHIÊN TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC THÁP CHĂM


Những di tích kiến trúc Chăm còn tồn tại ở miền Trung, kể cả các phế tích, là di sản văn hoá quý giá của một nền văn minh rực rỡ đã một thời vang bóng; ngày nay tất cả các di tích ấy là một phần không thể thiếu được trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam.
Ngoài những yếu tố về mặt kinh tế, xã hội, tôn giáo, sự hình thành, phát triển và mất đi của các di sản văn hoá Chăm luôn gắn với những yếu tố tự nhiên; nói đúng hơn, những di sản văn hoá Chăm luôn chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên.

1/ Sự tác động của địa hình và địa chất:

  a/- Địa hình.
  Vượt qua vùng đồng bằng rộng lớn của Quảng Nam và Quảng Ngãi, bắt đầu từ phía nam huyện Đức Phổ, những dãy núi thuộc gờ Trường Sơn Nam tiến dần sát biển, do vậy vùng Bình Định có những đồng bằng vừa phải được phân cách bởi những bình phong núi có khi khá cao như khối Chóp Chài 653m, trong vùng đồng bằng còn rãi rác nhiều ngọn đồi cao. Đoạn cuối của gờ núi Trường Sơn Nam từ thung lũng sông Đà Rằng đến Đông Nam Bộ có nhiều dãy núi chạy theo hướng đông bắc - tây nam... Gờ núi ở cực nam Trung bộ nầy đâm ra biển nhiều nhánh đồ sộ, chẳng hạn như khối núi Vọng Phu ở Mũi Nạy(1). Qua vùng Ninh Thuận, Bình Thuận núi càng ra sát biển, như giáo sư Lê Bá Thảo đã nhận xét: người đi đường sẽ cảm thấy đang đi trong vùng núi nhiều hơn nếu lâu lâu không ló ra bề mặt xanh thẫm của một vụng biển mà từ trên đèo cao, mắt có thể nhìn bao quát được(2).
Chính vì nằm trong vùng địa hình như vậy mà phần lớn những di tích kiến trúc Chăm từ vùng Bình Định vào đến Phan Thiết được xây dựng trên những ngọn núi hoặc đỉnh đồi, nhờ đó các ngôi tháp càng nổi bật sừng sững trong không gian rộng lớn của vùng đồng bằng.
Ở Bình Định, các đền tháp như Bánh Ít, Cánh Tiên, Phước Lộc ...được xây trên những ngọn đồi; trong đó tháp Phước Lộc nằm trên một ngọn đồi cao nhất thuộc xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn; từ đỉnh đồi Phước Lộc, có thể nhìn bao quát một cách khá rõ ràng các di tích kiến trúc Chăm như thành Đồ Bàn và tháp Cánh Tiên ở phía tây-nam, tháp Dương Long ở phía tây, tháp Bánh Ít ở phía nam; theo Ngô Văn Doanh, tháp Phước Lộc có một chức năng tôn giáo linh thiêng nào đó đối với thành Đồ Bàn cũng như vương quốc Chămpa(3). Tại Phú Yên, tháp Nhạn nằm uy nghi trên đỉnh đồi Bảo Sơn ở phía đông thị xã Tuy Hòa, được ví như một ngọn hải đăng bên cửa sông Đà Rằng(4). Khu đền tháp Pô Naga (Nha Trang) được xây dựng trên một ngọn đồi cao ở làng Cù Lao. Tại Ninh Thuận, tháp Pô Klaung Garai nằm trên đỉnh đồi Bửu Sơn (còn được gọi là núi Trầu); khu tháp Pô Rômê được xây dựng trên đỉnh đồi cao thuộc huyện Ninh Phước. Ở vùng cực nam Trung bộ, khu tháp Phú Hài được xây trên đỉnh một ngọn đồi cao khoảng 50m, nằm gần bờ biển Phan thiết (Ninh Thuận).
Riêng khu thánh địa Mỹ Sơn được xây dựng trong một thung lũng, phần lớn các đền tháp ở đây được xây trên vùng đất bằng phẳng, nhưng người Chăm cổ vẫn quan tâm đến việc chọn những đỉnh đồi để xây các nhóm tháp G, H.
Cũng có nhiều công trình được xây dựng trong vùng đồng bằng, nhưng thông thường, người ta cũng chọn những gò đất cao nhất trong khu vực để xây tháp: Ở Đà Nẵng có các phế tích Chăm ở Ngũ Hành Sơn, Khuê Trung, Phong Lệ; Quảng Nam có các nhóm tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ, phế tích Phú Hưng, An Mỹ...; Bình Định có nhóm tháp Dương Long; Ninh Thuận có nhóm tháp Hoà Lai... Cá biệt có trường hợp tháp Chăm được xây dựng trên bờ biển như tháp Mỹ Khánh (Thừa Thiên - Huế).
Như vậy, về mặt địa hình, khi chọn những vị trí cao để xây dựng đền tháp, ngoài mục đích để tránh lụt lội, chắc hẳn người Chăm xưa còn quan tâm đến yếu tố tâm linh, độ cao của gò đồi làm tăng thêm sự uy nghiêm của đền tháp đối với các công trình khác.

b/- Địa chất.
Cho đến nay nhiều công trình kiến trúc Chăm cổ vẫn còn đứng vững, nhưng cũng không ít công trình đã bị đổ nát, ngoài những tác động của khí hậu và con người, yếu tố địa chất góp phần không nhỏ vào việc tồn tại hay sụp đổ của chúng. Trong trường hợp đền tháp được xây dựng trên nền đất yếu thì phải gia cố kỹ lưỡng nền móng, nếu chúng được xây dựng trên nền đất bền vững thì việc gia cố nền móng đơn giản hơn; nếu không khảo sát kỹ địa tầng khu vực xây dựng, có thể dẫn đến nguy cơ nghiêng, lún bởi khối lượng gạch đồ sộ của công trình.
Như vậy, vấn đề địa chất vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng bất kỳ công trình nào, tháp Chăm cũng không ngoại lệ. Kết quả khai quật khảo cổ học và đào thám sát khảo sát kỹ thuật tại các di tích kiến trúc Chăm cho thấy, từ xa xưa, người Chăm đã biết thăm dò địa tầng, từ đó có giải pháp gia cố nền móng để chống lún cho các công trình kiến trúc.
Trong chương trình hợp tác Việt Nam - Ba Lan, tiểu ban Phục hồi các di tích Champa làm việc tai Mỹ Sơn vào những năm 80 của thế kỷ XX đã đào thám sát ở các tháp B1, B3, D1 đã cho biết chân móng các tháp được gia cố bằng một lớp cát thô dày khoảng 10cm ở dưới cùng, tiếp theo là lớp đá cuội hoặc đá dăm dày khoảng 15-20cm, rồi đến một lớp cát chừng 10cm(5).
Tại tháp F1 Mỹ Sơn, những nhà nghiên cứu trực tiếp đào thám sát nhận thấy tháp được xây dựng trên nền đá gốc, người Chăm cổ đào móng sâu 0,7m, sau đó đổ cát trộn cuội đầm lèn chặt sau đó dùng đá tảng kè tạo móng vững chắc. Tại các di tích Vân Trạch Hoà,  Mỹ Khánh (Thừa Thiên - Huế); Khánh Vân (Quảng Ngãi); tháp Dương Long (Bình Định), phế tích Phú Hưng... móng các công trình kiến trúc được kè cát trộn sỏi cuội đầm lèn chặc, dày từ 40cm đến 60 cm(6). Đối với những nơi có nền đất yếu như  tháp Đôi (Bình Định), người ta gia cố nền móng bằng lớp cuội sỏi trộn cát dày 1,5m để chống lún cho tháp(7).

2/- Sự tác động của khí hậu

  Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 220 C đến 270 C; độ ẩm tương đối thường dao động từ 80 đến 100%, trừ vùng khô hạn như Ninh Thuận, Bình Thuận, có thể nói Việt Nam thừa ẩm(8). Sự phong phú về nhiệt và ẩm vừa có mặt tác động tích cực lại vừa có mặt tiêu cực đối với động thực vật cũng như các công trình kiến trúc.
  Khu đền tháp Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng hẹp; độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 82%- 85%; lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 3000mm, đây là điều kiện thuận lợi cho các loại cây rừng phát triển rất nhanh, nhiều loại cây cỏ đã mọc trên tháp, rễ của một số cây lớn đâm sâu vào thân tháp làm cho tường tháp bị nứt nẻ, sụp đổ; các loại nấm mốc, rêu, địa-y cũng góp phần bào mòn bề mặt tường tháp. Mưa lũ cũng tàn phá không kém, hàng năm đến mùa mưa nước khe Thẻ lại dâng cao, tác động đến các nhóm tháp A và D, một nhánh suối chảy sau lưng khu tháp A bị đổi dòng đã làm sạt lở một vài công trình thuộc nhóm tháp A’.
Ở Quảng Nam, tháp Bằng An (Điện Bàn) là công trình kiến trúc Chăm có bình đồ hình bát giác duy nhất còn đứng vững, do nằm trong vùng thấp, di tích nầy đã chịu sự tác động khá ác liệt của lũ lụt, hai công trình phụ của tháp đã bị nước lũ làm sụp đổ từ lâu; từ lâu, một cây lớn mọc trên mái tiền sảnh tháp, rễ cây ăn sâu vào tường làm nứt một mảng tường lớn. Phế tích An Phú (Tam Kỳ) cũng bị tác động của nước lũ làm sụp đổ từ xa xưa, trong các lớp gạch đổ nát còn lẫn đất bùn của những trận lũ, lớp ngói mũi lá lợp trên mái công trình nầy bị dạt toàn bộ về phía đông theo hướng dòng chảy nước lũ. Các nhóm tháp khác như Chiên Đàn, Khương Mỹ, nhờ được xây trên vùng đất cao nên tránh được sự tàn phá của lũ lụt, tuy vậy độ ẩm về mùa đông rất lớn của vùng Tam Kỳ, Núi Thành (từ 87% đến 92%), đã giúp cho cây cỏ phát triển mạnh, chúng mọc phủ kín đỉnh tháp, nhiều cây to tồn tại trên đỉnh tháp lâu đời, rễ cây ăn sâu vào thân tháp khiến tường tháp nứt nẻ, xuống cấp nghiêm trọng; phần đỉnh của hai tháp Bắc và Nam Chiên Đàn đã bị sụp đổ từ lâu, theo các vị bô lão trong vùng, xưa kia trên hai đỉnh tháp nầy cây to phủ kín, rễ cây mọc dài xuống tận đất, qua những trận bão lớn, cây trên đỉnh tháp bị thổi đổ kéo theo những mảng lớn của đỉnh tháp. Ở phần chân các tháp sự phong hoá diễn ra rất mạnh, chúng lại bị bào mòn bởi gió và cát, khiến nhiều chổ bị khoét lõm sâu vào thân, gia tăng nguy cơ đối với tháp.
Các tháp ở Bình Định, Phú Yên phần lớn nằm trên các đỉnh đồi do vậy tránh được lụt lội, tuy nhiên chúng cũng bị tàn phá nặng nề bởi cây cối mọc trên đỉnh tháp, các loại nấm mốc cũng làm cho gạch đá bị xây tháp bị mũn đi, sự xâm thực của mưa, gió làm xói mòn bề mặt tường tháp,  tác động xấu đến sự bền vững của các công trình.
Khu vực từ Nha Trang đến Ninh Thuận, Bình Thuận khí hậu tương đối khô, độ ẩm không cao, một số loại cây có thể mọc trên đỉnh các tháp, nhưng do chúng không phát triển mạnh nên ít gây ra nứt nẻ tường tháp; tuy vậy các nhóm tháp ở vùng nầy lại bị tác động của gió biển và cát bào mòn bề mặt tháp, làm hư hại chân và đỉnh tháp.
Gió biển còn làm di chuyển những cồn cát lớn làm vùi lấp cả công trình kiến trúc như trường hợp tháp Mỹ Khánh ở Thừa Thiên - Huế, công trình nầy đã bị lấp sâu dưới cát qua nhiều thế kỷ, nhờ vậy mà nó được bảo tồn khá tốt; tuy nhiên khi được khai quật phát lộ, di tích Mỹ Khánh đang đứng trước nguy cơ bị sự tàn phá của mưa gió và nhiều tác nhân khác.

Sự tác động của các yếu tố tự nhiên đối với các đền tháp Chăm đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra; nhịp điệu phong phú của tự nhiên có tính chất hai mặt, vừa có tính tích cực lại vừa tiêu cực; do vậy, nếu nắm vững quy luật của tự nhiên thì chúng ta sẽ vận dụng những mặt tích cực của chúng; ngăn ngừa, hạn chế những yếu tố tiêu cực tác động lên các đền tháp Chăm; góp phần bảo tồn hiệu quả các di sản văn hoá vật thể quý giá của dân tộc.


----------------------------------
Chú thích:
(1)   Lê Bá Thảo.  Thiên nhiên Việt Nam. NXB Giáo dục 2002, tr. 219
(2)   Lê Bá Thảo. Sđd, tr. 224.
(3)   Ngô Văn Doanh. Tháp cổ Chămpa sự thật và huyền thoại. NXB Văn hoá Thông tin 1994, tr 68.
(4)   Ngô Văn Doanh. Sđd, tr 133.
(5)   Nguyễn Hồng Kiên. Nhận thức mới về các đền tháp Chăm. Những Phát hiện mới về KCH 1990, tr. 228-229.
(6)   Lê Đình Phụng. Kiến trúc - Điêu khắc ở Mỹ Sơn Di sản Văn hoá thế giới. NXB Khoa học Xã hội, 2004, tr. 282 - 283.
(7)   Đặng Kim Ngọc. Những thu hoạch mới về tháp Chàm. Những Phát hiện mới về KCH 1983, tr. 189-190.
(8)   Lê Bá Thảo. Sđd, tr. 12


Tháp Bánh Ít (Bình Định)

Tháp Dương Long (Bình Định)

Tháp Nhạn (Phú Yên)
Tháp Pô-klong-Giarai (Ninh Thuận)

6 tháng 12, 2012

Chùa ở Đà Nẵng

Kiến trúc tôn giáo ở Đà Nẵng
(Phần 2)
Những ngôi chùa tiêu biểu ở Đà Nẵng

Chùa Pháp Lâm
Tọa lạc tại 574 Ông Ích Khiêm, chùa được xây dựng từ năm 1936 theo phong cách Á Đông trên diện tích khuôn viên 3.000m2, đầu tiên là nơi để Hội An Nam Phật học chi hội Đà Nẵng hoạt động; ngôi chùa có kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Việt Nam.
Hiện nay chùa là trụ sở của Thành hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng.

Chùa Pháp Lâm

Chùa Phổ Đà
Toạ lạc tại 340 Phan Châu Trinh do Hòa thượng Thích Tôn Thắng khai sơn. Chùa được xây dựng vào năm 1932 với phong cách Đông-Tây kết hợp. Trong chánh điện thờ 3 tượng Phật bằng đồng đúc năm 1947 gồm tượng Phật Di Đà, tượng Quán Thế Âm và Đại Thế Chi Bồ Tát. Đây còn là địa chỉ của Trường Trung cấp Phật học thành phố Đà Nẵng - nơi đào tạo tăng ni của Đà Nẵng và Quảng Nam hơn ba thập kỷ qua.
Chùa Phổ Đà
Chùa Tam Bảo
Tọa lạc tại 323 Phan Châu Trinh. Đây là tổ đình đầu tiên của Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng thuộc phái Nam Tông. Chùa được xây dựng vào năm 1953-1963. Chùa có tháp cao 5 tầng biểu tượng năm màu sắccủa Phật giáo, tháp chùa là nơi cất giữ Ngọc Xá Lợi, là nơi có sức hấp dẫn đối với du khách phương Tây và nhiều nhà sư, phật tử trên đường hành hương từ các nước Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Myanmar sang Việt Nam nghiên cứu về Phật giáo.

Chùa Tam Bảo
Chùa Quang Minh
Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 7km, nằm trên đường Tôn Đức Thắng thuộc phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu. Tiền thân của chùa là Niệm Phật đường có từ năm1957.
Trong khuôn viên chùa có tượng Phật Thích Ca cao 20m ngồi trên bệ cao 10m, rộng 8m, xây theo hình lục giác tròn như một đài sen khổng lồ; bên trong tượng có cầu thang đi lên, tại tầng trên cùng du khách có thể ngắm nhìn được toàn cảnh thành phố Đà Nẵng.

Chùa Quang Minh

Chùa ở Ngũ Hành Sơn
Chùa Linh Ứng
Nằm bên sườn ngọn Thủy Sơn trông ra hướng biển. Dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740-1780) hòa thượng Quang Chánh đến tu hành tại động Tàng Chơn, lúc đầu chỉ có một thảo am bằng tranh tre. Sau khi lên ngôi, Gia Long cho lập lại chùa và lấy tên Ứng Chơn Tự và đổi tên thành Linh Ứng tự dưới triều Thành Thái thứ 3.
Chùa Linh Ứng

Chùa Tam Thai
Nằm ở phía tây ngọn Thủy Sơn. Chùa được xây dựng vào năm 1630, cạnh chùa có tháp Phổ Đồng, chùa Từ Lâm, Vọng Giang Đài, đứng từ đây bạn có thể bao quát được toàn cảnh làng quê Cẩm Lệ. Phía trái chùa là động với nhiều thạch nhũ đẹp. Nơi đây rất thích hợp cho những ai muốn hành hương đến đất Phật, vừa được nghỉ ngơi trong môi trường thanh tịnh và trong lành, vừa được tham quan các hang động.

Chùa Tam Thai

Chùa Quan Âm
Nằm ở ngọn Kim Sơn. Chùa tựa lưng vào núi, quay mặt ra dòng sông Cổ Cò thơ mộng. Phía sau chùa có động Quan Âm với nhiều hình ảnh kỳ thú do thạch nhũ tạo thành rất giống với tượng Phật trong truyền thuyết Phật giáo, động này do Hòa thượng Pháp Nhãn tìm thấy vào năm 1956.
Chùa Quan Âm là nơi tổ chức Lễ hội Quan Thế Âm hàng năm vào ngày 19/2 Âm lịch hàng năm


Chùa Quan Âm

Chùa Linh Ứng Bãi Bụt
Chùa Linh Ứng - Bãi Bụt  được xây dựng vào đầu thế kỷ XXI, sau hơn 5 năm thi công, ngôi chùa này đã được khánh thành vào tháng 7 năm 2010. Công trình này được xem là ngôi chùa lớn nhất ở thành phố Đà Nẵng. Ngôi chùa mang một phong cách hiện đại kết hợp với tính truyền thống vốn có của chùa chiền Việt Nam .
Đặc biệt, tại chùa Linh Ứng - Bãi Bụt có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cao 67m, đường kính tòa sen 35m. Tượng đứng tựa lưng vào núi Sơn Trà, hướng ra biển, trên mão tượng Quán Thế  Âm Bồ Tát có tượng Phật Tổ cao 2m. Trong lòng tượng có 17 tầng, mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ mặt, tư thế khác nhau...



Chùa Linh Ứng (Bãi Bụt)