12 tháng 12, 2012

Những yếu tố tự nhiên tác động đến các tháp Chăm


NHỮNG YẾU TỐ TỰ NHIÊN TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC THÁP CHĂM


Những di tích kiến trúc Chăm còn tồn tại ở miền Trung, kể cả các phế tích, là di sản văn hoá quý giá của một nền văn minh rực rỡ đã một thời vang bóng; ngày nay tất cả các di tích ấy là một phần không thể thiếu được trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam.
Ngoài những yếu tố về mặt kinh tế, xã hội, tôn giáo, sự hình thành, phát triển và mất đi của các di sản văn hoá Chăm luôn gắn với những yếu tố tự nhiên; nói đúng hơn, những di sản văn hoá Chăm luôn chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên.

1/ Sự tác động của địa hình và địa chất:

  a/- Địa hình.
  Vượt qua vùng đồng bằng rộng lớn của Quảng Nam và Quảng Ngãi, bắt đầu từ phía nam huyện Đức Phổ, những dãy núi thuộc gờ Trường Sơn Nam tiến dần sát biển, do vậy vùng Bình Định có những đồng bằng vừa phải được phân cách bởi những bình phong núi có khi khá cao như khối Chóp Chài 653m, trong vùng đồng bằng còn rãi rác nhiều ngọn đồi cao. Đoạn cuối của gờ núi Trường Sơn Nam từ thung lũng sông Đà Rằng đến Đông Nam Bộ có nhiều dãy núi chạy theo hướng đông bắc - tây nam... Gờ núi ở cực nam Trung bộ nầy đâm ra biển nhiều nhánh đồ sộ, chẳng hạn như khối núi Vọng Phu ở Mũi Nạy(1). Qua vùng Ninh Thuận, Bình Thuận núi càng ra sát biển, như giáo sư Lê Bá Thảo đã nhận xét: người đi đường sẽ cảm thấy đang đi trong vùng núi nhiều hơn nếu lâu lâu không ló ra bề mặt xanh thẫm của một vụng biển mà từ trên đèo cao, mắt có thể nhìn bao quát được(2).
Chính vì nằm trong vùng địa hình như vậy mà phần lớn những di tích kiến trúc Chăm từ vùng Bình Định vào đến Phan Thiết được xây dựng trên những ngọn núi hoặc đỉnh đồi, nhờ đó các ngôi tháp càng nổi bật sừng sững trong không gian rộng lớn của vùng đồng bằng.
Ở Bình Định, các đền tháp như Bánh Ít, Cánh Tiên, Phước Lộc ...được xây trên những ngọn đồi; trong đó tháp Phước Lộc nằm trên một ngọn đồi cao nhất thuộc xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn; từ đỉnh đồi Phước Lộc, có thể nhìn bao quát một cách khá rõ ràng các di tích kiến trúc Chăm như thành Đồ Bàn và tháp Cánh Tiên ở phía tây-nam, tháp Dương Long ở phía tây, tháp Bánh Ít ở phía nam; theo Ngô Văn Doanh, tháp Phước Lộc có một chức năng tôn giáo linh thiêng nào đó đối với thành Đồ Bàn cũng như vương quốc Chămpa(3). Tại Phú Yên, tháp Nhạn nằm uy nghi trên đỉnh đồi Bảo Sơn ở phía đông thị xã Tuy Hòa, được ví như một ngọn hải đăng bên cửa sông Đà Rằng(4). Khu đền tháp Pô Naga (Nha Trang) được xây dựng trên một ngọn đồi cao ở làng Cù Lao. Tại Ninh Thuận, tháp Pô Klaung Garai nằm trên đỉnh đồi Bửu Sơn (còn được gọi là núi Trầu); khu tháp Pô Rômê được xây dựng trên đỉnh đồi cao thuộc huyện Ninh Phước. Ở vùng cực nam Trung bộ, khu tháp Phú Hài được xây trên đỉnh một ngọn đồi cao khoảng 50m, nằm gần bờ biển Phan thiết (Ninh Thuận).
Riêng khu thánh địa Mỹ Sơn được xây dựng trong một thung lũng, phần lớn các đền tháp ở đây được xây trên vùng đất bằng phẳng, nhưng người Chăm cổ vẫn quan tâm đến việc chọn những đỉnh đồi để xây các nhóm tháp G, H.
Cũng có nhiều công trình được xây dựng trong vùng đồng bằng, nhưng thông thường, người ta cũng chọn những gò đất cao nhất trong khu vực để xây tháp: Ở Đà Nẵng có các phế tích Chăm ở Ngũ Hành Sơn, Khuê Trung, Phong Lệ; Quảng Nam có các nhóm tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ, phế tích Phú Hưng, An Mỹ...; Bình Định có nhóm tháp Dương Long; Ninh Thuận có nhóm tháp Hoà Lai... Cá biệt có trường hợp tháp Chăm được xây dựng trên bờ biển như tháp Mỹ Khánh (Thừa Thiên - Huế).
Như vậy, về mặt địa hình, khi chọn những vị trí cao để xây dựng đền tháp, ngoài mục đích để tránh lụt lội, chắc hẳn người Chăm xưa còn quan tâm đến yếu tố tâm linh, độ cao của gò đồi làm tăng thêm sự uy nghiêm của đền tháp đối với các công trình khác.

b/- Địa chất.
Cho đến nay nhiều công trình kiến trúc Chăm cổ vẫn còn đứng vững, nhưng cũng không ít công trình đã bị đổ nát, ngoài những tác động của khí hậu và con người, yếu tố địa chất góp phần không nhỏ vào việc tồn tại hay sụp đổ của chúng. Trong trường hợp đền tháp được xây dựng trên nền đất yếu thì phải gia cố kỹ lưỡng nền móng, nếu chúng được xây dựng trên nền đất bền vững thì việc gia cố nền móng đơn giản hơn; nếu không khảo sát kỹ địa tầng khu vực xây dựng, có thể dẫn đến nguy cơ nghiêng, lún bởi khối lượng gạch đồ sộ của công trình.
Như vậy, vấn đề địa chất vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng bất kỳ công trình nào, tháp Chăm cũng không ngoại lệ. Kết quả khai quật khảo cổ học và đào thám sát khảo sát kỹ thuật tại các di tích kiến trúc Chăm cho thấy, từ xa xưa, người Chăm đã biết thăm dò địa tầng, từ đó có giải pháp gia cố nền móng để chống lún cho các công trình kiến trúc.
Trong chương trình hợp tác Việt Nam - Ba Lan, tiểu ban Phục hồi các di tích Champa làm việc tai Mỹ Sơn vào những năm 80 của thế kỷ XX đã đào thám sát ở các tháp B1, B3, D1 đã cho biết chân móng các tháp được gia cố bằng một lớp cát thô dày khoảng 10cm ở dưới cùng, tiếp theo là lớp đá cuội hoặc đá dăm dày khoảng 15-20cm, rồi đến một lớp cát chừng 10cm(5).
Tại tháp F1 Mỹ Sơn, những nhà nghiên cứu trực tiếp đào thám sát nhận thấy tháp được xây dựng trên nền đá gốc, người Chăm cổ đào móng sâu 0,7m, sau đó đổ cát trộn cuội đầm lèn chặt sau đó dùng đá tảng kè tạo móng vững chắc. Tại các di tích Vân Trạch Hoà,  Mỹ Khánh (Thừa Thiên - Huế); Khánh Vân (Quảng Ngãi); tháp Dương Long (Bình Định), phế tích Phú Hưng... móng các công trình kiến trúc được kè cát trộn sỏi cuội đầm lèn chặc, dày từ 40cm đến 60 cm(6). Đối với những nơi có nền đất yếu như  tháp Đôi (Bình Định), người ta gia cố nền móng bằng lớp cuội sỏi trộn cát dày 1,5m để chống lún cho tháp(7).

2/- Sự tác động của khí hậu

  Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 220 C đến 270 C; độ ẩm tương đối thường dao động từ 80 đến 100%, trừ vùng khô hạn như Ninh Thuận, Bình Thuận, có thể nói Việt Nam thừa ẩm(8). Sự phong phú về nhiệt và ẩm vừa có mặt tác động tích cực lại vừa có mặt tiêu cực đối với động thực vật cũng như các công trình kiến trúc.
  Khu đền tháp Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng hẹp; độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 82%- 85%; lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 3000mm, đây là điều kiện thuận lợi cho các loại cây rừng phát triển rất nhanh, nhiều loại cây cỏ đã mọc trên tháp, rễ của một số cây lớn đâm sâu vào thân tháp làm cho tường tháp bị nứt nẻ, sụp đổ; các loại nấm mốc, rêu, địa-y cũng góp phần bào mòn bề mặt tường tháp. Mưa lũ cũng tàn phá không kém, hàng năm đến mùa mưa nước khe Thẻ lại dâng cao, tác động đến các nhóm tháp A và D, một nhánh suối chảy sau lưng khu tháp A bị đổi dòng đã làm sạt lở một vài công trình thuộc nhóm tháp A’.
Ở Quảng Nam, tháp Bằng An (Điện Bàn) là công trình kiến trúc Chăm có bình đồ hình bát giác duy nhất còn đứng vững, do nằm trong vùng thấp, di tích nầy đã chịu sự tác động khá ác liệt của lũ lụt, hai công trình phụ của tháp đã bị nước lũ làm sụp đổ từ lâu; từ lâu, một cây lớn mọc trên mái tiền sảnh tháp, rễ cây ăn sâu vào tường làm nứt một mảng tường lớn. Phế tích An Phú (Tam Kỳ) cũng bị tác động của nước lũ làm sụp đổ từ xa xưa, trong các lớp gạch đổ nát còn lẫn đất bùn của những trận lũ, lớp ngói mũi lá lợp trên mái công trình nầy bị dạt toàn bộ về phía đông theo hướng dòng chảy nước lũ. Các nhóm tháp khác như Chiên Đàn, Khương Mỹ, nhờ được xây trên vùng đất cao nên tránh được sự tàn phá của lũ lụt, tuy vậy độ ẩm về mùa đông rất lớn của vùng Tam Kỳ, Núi Thành (từ 87% đến 92%), đã giúp cho cây cỏ phát triển mạnh, chúng mọc phủ kín đỉnh tháp, nhiều cây to tồn tại trên đỉnh tháp lâu đời, rễ cây ăn sâu vào thân tháp khiến tường tháp nứt nẻ, xuống cấp nghiêm trọng; phần đỉnh của hai tháp Bắc và Nam Chiên Đàn đã bị sụp đổ từ lâu, theo các vị bô lão trong vùng, xưa kia trên hai đỉnh tháp nầy cây to phủ kín, rễ cây mọc dài xuống tận đất, qua những trận bão lớn, cây trên đỉnh tháp bị thổi đổ kéo theo những mảng lớn của đỉnh tháp. Ở phần chân các tháp sự phong hoá diễn ra rất mạnh, chúng lại bị bào mòn bởi gió và cát, khiến nhiều chổ bị khoét lõm sâu vào thân, gia tăng nguy cơ đối với tháp.
Các tháp ở Bình Định, Phú Yên phần lớn nằm trên các đỉnh đồi do vậy tránh được lụt lội, tuy nhiên chúng cũng bị tàn phá nặng nề bởi cây cối mọc trên đỉnh tháp, các loại nấm mốc cũng làm cho gạch đá bị xây tháp bị mũn đi, sự xâm thực của mưa, gió làm xói mòn bề mặt tường tháp,  tác động xấu đến sự bền vững của các công trình.
Khu vực từ Nha Trang đến Ninh Thuận, Bình Thuận khí hậu tương đối khô, độ ẩm không cao, một số loại cây có thể mọc trên đỉnh các tháp, nhưng do chúng không phát triển mạnh nên ít gây ra nứt nẻ tường tháp; tuy vậy các nhóm tháp ở vùng nầy lại bị tác động của gió biển và cát bào mòn bề mặt tháp, làm hư hại chân và đỉnh tháp.
Gió biển còn làm di chuyển những cồn cát lớn làm vùi lấp cả công trình kiến trúc như trường hợp tháp Mỹ Khánh ở Thừa Thiên - Huế, công trình nầy đã bị lấp sâu dưới cát qua nhiều thế kỷ, nhờ vậy mà nó được bảo tồn khá tốt; tuy nhiên khi được khai quật phát lộ, di tích Mỹ Khánh đang đứng trước nguy cơ bị sự tàn phá của mưa gió và nhiều tác nhân khác.

Sự tác động của các yếu tố tự nhiên đối với các đền tháp Chăm đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra; nhịp điệu phong phú của tự nhiên có tính chất hai mặt, vừa có tính tích cực lại vừa tiêu cực; do vậy, nếu nắm vững quy luật của tự nhiên thì chúng ta sẽ vận dụng những mặt tích cực của chúng; ngăn ngừa, hạn chế những yếu tố tiêu cực tác động lên các đền tháp Chăm; góp phần bảo tồn hiệu quả các di sản văn hoá vật thể quý giá của dân tộc.


----------------------------------
Chú thích:
(1)   Lê Bá Thảo.  Thiên nhiên Việt Nam. NXB Giáo dục 2002, tr. 219
(2)   Lê Bá Thảo. Sđd, tr. 224.
(3)   Ngô Văn Doanh. Tháp cổ Chămpa sự thật và huyền thoại. NXB Văn hoá Thông tin 1994, tr 68.
(4)   Ngô Văn Doanh. Sđd, tr 133.
(5)   Nguyễn Hồng Kiên. Nhận thức mới về các đền tháp Chăm. Những Phát hiện mới về KCH 1990, tr. 228-229.
(6)   Lê Đình Phụng. Kiến trúc - Điêu khắc ở Mỹ Sơn Di sản Văn hoá thế giới. NXB Khoa học Xã hội, 2004, tr. 282 - 283.
(7)   Đặng Kim Ngọc. Những thu hoạch mới về tháp Chàm. Những Phát hiện mới về KCH 1983, tr. 189-190.
(8)   Lê Bá Thảo. Sđd, tr. 12


Tháp Bánh Ít (Bình Định)

Tháp Dương Long (Bình Định)

Tháp Nhạn (Phú Yên)
Tháp Pô-klong-Giarai (Ninh Thuận)

1 nhận xét:

lời bình mới