27 tháng 12, 2013

Chúc mừng năm mới

NĂM 2014 SẮP ĐẾN RỒI, TƯ CẬN XIN CHÚC CÁC BẠN BÈ BLOG GẦN XA CÙNG GIA ĐÌNH MỘT NĂM MỚI AN LÀNH, HẠNH PHÚC VÀ THÀNH ĐẠT.


17 tháng 12, 2013

Mưa


Mưa

 

Đâu rồi quá khứ trong ngần

Tóc mây chợt hiện lên vần thơ xưa

Những chiều ta đón trong mưa

Dáng em bối rối tay đưa nghiêng dù

Bóng chim giờ đã xa mù

Cớ sao người mãi ngàn thu đợi chờ.

 

Mưa rơi ướt đẫm cơn mơ

Để cho ngọn gió ru hời bên sông.

 

29 tháng 11, 2013

Dỗi hờn


Dỗi hờn

 
Dỗi hờn con sóng đi xa
Để bờ cát trắng mượt mà nhớ ai
Thùy dương rũ bóng 
                                    tàn phai
Mênh mang tình biển
                                 ru dài giấc mơ
Hải âu mỏi cánh thẩn thờ
Tựa vào con sóng
                           ngẫn ngơ phiêu bồng
Dỗi hờn chi để ngóng trông

Tím hoa muống biển
                       còn không bóng thuyền...

20 tháng 11, 2013

Biển vắng

Biển vắng

Xô nghiêng cồn cát dưới chân
Dập dồn sóng vỗ lúc gần lúc xa
Thuỳ dương rũ bóng chiều tà
Mây chiều tím ngắt mượt mà tóc tiên
Lặng nghe nức nở chim quyên
Vết chân trên cát giữa miền hoang vu
Thuyền xa lạc chốn sương mù
Hải âu còn mãi viễn du chưa về
Dã tràng xe cát mãi mê
Chắc gì người nhớ lời thề năm xưa
Thôi đành lạc lối trong mưa
Dấu xưa một thoáng cho vừa nhớ nhung....

6 tháng 11, 2013

hoàng hôn tím

Hoàng hôn tím

Bờ sông ngày nắng hanh hao
Đàn chim nháo nhác xôn xao lạc bầy
Hoàng hôn chợt thắm màu mây
Tìm đâu hoàng hạc xa bay cuối trời

Nửa đời còn mãi rong chơi
Chiều tà cũng vẫn ru lời tình yêu
Đường vui chân bước liêu xiêu
Cung đàn hòa với tiếng tiêu rộn ràng

Một trời hoa cỏ thênh thang
Hoàng hôn màu tím… nhẹ nhàng giấc mơ.

22 tháng 10, 2013

Cánh cò

Cánh cò

Cơn lũ về nhanh nước trắng đồng
Cánh cò lặn lội giữa ngày đông
Co ro gầy guộc trong chiều vắng
Cho lũ con thơ được no lòng

Thương thân cò mẹ long đong
Bao năm xuôi ngược mặc dòng đời trôi

13 tháng 10, 2013

Chiều say


Chiều say

Chiều say chợt nhớ mùa thu
Hoàng hôn đi mót sương mù lang thang
Câu thơ rơi xuống địa đàng
Người xưa vẫn dáng mơ màng bên hoa

Túi thơ bầu rượu la đà
Thi nhân khật khưởng bước xa bước gần
Xạc xào lá vướn gót chân
Mây ngàn lơ lửng bâng khuâng tơ trời...

9 tháng 10, 2013

Tâm hồn người thầy giáo trong vị danh tướng bất khả chiến bại

Tâm hồn người thầy giáo trong vị danh tướng bất khả chiến bại.

          Trên thế giới, ngoài  Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hiếm có vị tướng nào nhận được sự nể phục và kính trọng của những người thua trận. Tướng De Castries- bại tướng trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã phải thừa nhận: “Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”. Và, gần 60 năm sau trận Điện Biên Phủ, khi được tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, mới đây tại Paris, người Pháp đã làm lễ tưởng niệm vị danh tướng đã từng đánh bại đoàn quân viễn chinh Pháp ở chiến trường Đông Dương.
          Ai cũng biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, phong trào Cần Vương, Duy Tân đã ảnh hưởng không nhỏ và nuôi dưỡng ý chí giành độc lập trong lòng Võ Nguyên Giáp. Từ thời còn đi học ở trường Quốc Học Huế, ông đã tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, Tháng 4/ 1927 ông bị đuổi học vì đã tham gia tổ chức một cuộc bãi khóa. Sau khi rời trường, Võ Nguyên Giáp được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu vào làm việc ở Huế, tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây Võ Nguyên Giáp có điều kiện tiếp xúc với những học thuyết dân tộc, cách mạng, đặc biệt là cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp và tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) của Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, Võ Nguyên Giáp bắt đầu nghề làm báo và bắt đầu sự nghiệp cách mạng.
          Năm 1936, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng. Tháng 5 năm 1939, ông nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc. Một năm sau, Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Nguyễn Ái Quốc. Thấy Võ Nguyên Giáp là người có tư duy quân sự nên Nguyễn Ái Quốc đã liên hệ với Đảng cộng sản Trung Quốc và cử ông đến Diên An để đào tạo chỉ huy. Tuy nhiên, do tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn. Ở châu Âu, phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp. Nguyễn Ái Quốc nhận định tình hình Đông Dương sẽ chuyển biến nhanh, cần gấp rút trở về nước chuẩn bị đón thời cơ, do đó đã triệu hồi Võ Nguyên Giáp quay lại.
          Đầu năm 1941, Võ Nguyên Giáp cùng Nguyễn Ái Quốc trở về Cao Bằng. Tại đây, ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ Việt MinhCao Bằng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh (tên mới của Nguyễn Ái Quốc), ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
          Mặc dù chưa qua trường lớp đào tạo quân sự nào, tuy nhiên với khả năng thiên bẩm của mình. Võ Nguyên Giáp đã làm nên những kỳ tích trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc. Ngày 25 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, đây là chiến công đầu tiên, mở ra một thời kỳ mới cho cánh mạng Việt Nam.
          Là một thầy giáo dạy lịch sử, Võ Nguyên Giáp đã nằm lòng nghệ thuật quân sự của cha ông ta trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Hoa. Đó là phương châm lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là Chiến tranh nhân dân, là sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiênquan điểm quân sự Hồ Chí Minh.    
          Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ra trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò: "Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn". Ông tự tin lên kế hoạch và chỉ huy chiến dịch tấn công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân viễn chinh nhà nghề được trang bị hiện đại của chính phủ Pháp. Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của thực dân Pháp tại Đông Dương đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam, một vị tướng lừng danh thế giới.
          Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, báo chí, truyền thông nước ngoài gọi ông là Napoleon của Việt Nam. So sánh Võ Nguyên Giáp với Napoléon là sự thể hiện lòng kính trọng và khâm phục về tài năng quân sự của thế giới đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tuy nhiên, Napoléon- vị Hoàng đế- danh tướng của nước Pháp đã bị thất trận trước Nguyên soái Kutuzov tại Bodorino -vùng ngoại ô Moskva, còn Võ Nguyên Giáp đã lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Với tư duy nhạy bén và linh hoạt, Ông đã chỉ huy thành công những chiến dịch tưởng chừng không thể thắng, đưa ra những quyết định mà có lẽ không một vị tướng nào dám thực hiện. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ngay sát giờ nổ súng, để tránh tổn thất binh sĩ, ông hạ lệnh rút hết quân đội, pháo binh ra khỏi vị trí tác chiến, lùi thời điểm tiến đánh, chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
          Là một thầy giáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn lắng nghe, học hỏi, không bao giờ chủ quan và không bao giờ coi thường ý kiến cấp dưới. Đại tướng Võ Nguyên Giáp quán triệt câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì nước ta nhỏ, yếu, nhân dân ta sẽ ít thôi, không nhiều như Trung Quốc cho nên làm thế nào để thắng địch nhiều mà tổn thất ít nhất”, chính vì thế, mặc dù chỉ huy một quân đội chính quy, nhưng ông rất coi trọng chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, lãnh đạo quân đội vũ trang cách mạng đi từ thắng lợi nầy sang thắng lợi khác, thế giới đã suy tôn Tướng Võ Nguyên Giáp như là bậc thầy số 1 về chiến tranh du kích. Nhiều nước thuộc địa trên thế giới học tập Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, đã quyết tâm đánh đổ thực dân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
          Mặc dù không qua một trường lớp quân sự chính quy nào nhưng Võ Nguyên Giáp đã trở thành đại tướng đầu tiên của quân đội Việt Nam khi mới 37 tuổi. Ông được tôn vinh là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ qua, Tân bách khoa toàn thư của nước Anh xuất bản năm 1985 trong chuyên mục giới thiệu các danh tướng thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay, cùng với Hannibal, Kutuzov, Napoléon, Jukov... đã giới thiệu trân trọng hai danh tướng Việt Nam là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
          Nghệ thuật chỉ huy của ông mang đậm tính nhân văn, thể hiện tâm hồn của một thầy giáo, nhân hậu, nhẹ nhàng đồng thời quyết đoán, quả cảm. Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu trong nghệ thuật chiến tranh cách mạng. Khi được chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ phải quý trọng sinh mạng bộ đội Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân. Thượng tướng Trần Văn Trà đã đúc kết: Tướng Giáp là một tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh. Chính tư tưởng đó đã định hướng cho sự phát triển và không ngừng lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.
          Là vị tướng lãnh đạo quân đội thiện chiến nhưng Võ nguyên Giáp không phải là vị tướng hiếu chiến, chính vì thế, ông được thế giới ngưỡng mộ, kính trọng, kể cả những người đã từng là bài tướng dưới tay ông. Trong buổi gặp gỡ cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Robert McNamara năm 1997, tướng Chester Cooper của phía Mỹ đã bày tỏ thái độ ngưỡng mộ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thưa ngài, tôi thán phục ngài từ 20 năm trước. Nay tôi vẫn thán phục”. Một cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam là James G.Zumwalt đã phát biểu: “Tôi chỉ có thể nói rằng, ông ấy là vị tướng vĩ đại nhất thuộc về một thế hệ vĩ đại nhất của Việt Nam”.
          Nhà báo kiêm sử gia người Mỹ Stanley Karnow (1925 - 2013) là người có mặt tại Việt Nam từ năm 1959, là tác giả tác phẩm nổi tiếng "Vietnam: A History" xuất bản năm 1983 đã  viết: "Tướng Giáp là một người đặc biệt. Ông vừa là một nhà hoạch định chính sách, vừa là một sĩ quan trên chiến trường. Người Pháp đã từng gọi ông là "trái núi lửa phủ băng". Ông là một người đàn ông lịch thiệp, luôn có chút hài hước khi trò chuyện. Ông ấy đặc biệt thông minh và có một kiểu bặt thiệp "rất Pháp". Karnow cho rằng, tài năng chiến lược của Tướng Giáp đã đặt ông vào "ngôi đền của những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại" như Wellington, Ulysses S. Grant hay Douglas MacArthur. Nhưng khác với họ, những chiến tích của ông là bởi nhờ tài năng thiên bẩm hơn là nhờ đào tạo chính quy. Và Karnow kết luận: "Sau Hồ Chí Minh, ông là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20... Ông ấy giống như một vị thánh. Không có gì khiến ông phải chấp nhận thất bại".
          Trong tác phẩm Võ Nguyên Giáp - Man and Myth  (Võ Nguyên Giáp - con người và huyền thoại) -  xuất bản tại New York năm 1962, nhà báo, nhà sử học quốc tế gốc Áo Benard Fall (1926-1967) đã có một nhận định khá “thiên vị”: "Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào sánh kịp với Võ Nguyên Giáp".
          Trong tác phẩm "Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá" Giáo sư Cecil B. Currey  giảng dạy lịch sử tại Đại học Nam Florida, Mỹ. người được đánh giá là một trong những sử gia xuất sắc về lịch sử chiến tranh đã nhận định, mặc dù không hề qua trường lớp đào tạo về quân sự ngoài thực tiễn chiến trường và nghiên cứu sách vở nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi những chiến công huy hoàng. Thắng lợi của Tướng Giáp không chỉ đơn thuần về mặt quân sự mà còn là những trận toàn thắng về chính trị. Tướng Giáp và người Việt Nam đã nhấn mạnh sự kết hợp đấu tranh giữa nông thôn và thành thị. Ông cũng là người xuất sắc ở khả năng động viên và tổ chức quần chúng.
          Còn với Daniel Roussel, đạo diễn người Pháp, nguyên là phóng viên thường trú của báo L'Humanité (Nhân đạo), người có 7 năm (1980-1986) làm phóng viên thường trú tại Việt Nam, và có nhiều cuộc phỏng vấn với Đại tướng, "Tướng Giáp không bị hình ảnh của một anh hùng quốc gia, một nhà chiến lược quân sự có tầm vóc quốc tế che khuất, ông luôn luôn tỏ ra là một con người rất đỗi bình thường".
          GS Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã bình luận: Một điều rất đặc biệt, trên thế giới rất hiếm xảy ra. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là nhà quân sự vừa là nhà sử học, nên ông vừa làm sử vừa viết sử. Những cuốn hồi ký của ông được viết theo một cách đặc biệt, thể loại hồi ký nhưng quan sát của người viết luôn đặt trong cách nhìn toàn cục của một vị thống soái. Đó là kiểu hồi ký mang tính chất lịch sử, vì thế, đó chính là những cuốn lịch sử sinh động bậc nhất về hai cuộc kháng chiến.
          Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là người vừa làm ra thắng lợi của chiến tranh vừa tổng kết cuộc chiến tranh. Điều này trước đây Trần Quốc Tuấn đã làm được với Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, nhưng đã thất truyền.... Đại tướng Võ Nguyên Giáp không viết theo lối binh thư cổ, mà tổng kết theo lối binh thư hiện đại. Hai cuốn sách có tính chất tổng kết cao nhất, nâng quan điểm của ông lên hệ thống tư tưởng lý luận là “Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân” – bàn về việc xây dựng lực lượng vũ trang và “Chiến tranh giải phóng dân tộc và Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc” - tổng kết về chiến lược, chiến thuật, tư tưởng quân sự Việt Nam trong hai cuộc chiến với hai tính chất khác nhau như vậy.

          Chính vì có tâm hồn của một người thầy giáo, mặc dù là vị tướng bất khả chiến bại nhưng đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn giữ được sự bình thường, gản dị trong đời sống, gần giũ với các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng, được suy tôn là người Anh Cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam.



8 tháng 10, 2013

Chiều



 

Chiều

 

Nắng vàng từng sợi trải trên đê

Thấp thoáng ngoài xa bóng ai về

Sông vắng con đò nằm bến đợi

Đường làng in đậm dấu chân quê

Hàng cau ngoài ngõ chưa đơm trái

Tre già vàng vọt đứng bên khe

Chiều hôm sầu muộn loang màu tím

Vườn cũ bây giờ vắng tiếng ve...

2 tháng 10, 2013

mưa

mưa

Đường mưa
dẫu có gập ghềnh
Xa     rồi     chốn    cũ
chênh    vênh    nỗi   chờ
Cho  em ngày tháng  mộng mơ
Nắng  thu  dệt lại  vần thơ  êm  đềm

Sang  mùa
tí tách giọt đêm
Ngã nghiêng cành lá
bên     thềm     gió      lay
Đông  sang chừ  đã  bao ngày
Đường mưa phố vắng có hay người về...

26 tháng 9, 2013

Chờ



Chờ


Một lần
gửi trọn ước mơ
Để ngày tháng cũ
xa mờ biển xanh
Phong ba
chờ lúc yên lành
Nắng vàng chợt hé
mong manh tơ trời...

17 tháng 9, 2013

Hoa vàng ngày ấy

Hoa vàng ngày ấy

Ngày lên như thể chưa buồn
Mây qua đầu núi
mưa nguồn đã giăng
Thu về hoa nở muộn mằn
Sắc vàng ngày ấy còn chăng hỡi người…


9 tháng 9, 2013

Tình thơ

Tình thơ

Tình thơ nét mực phai màu
Ngày xa xôi hứa đợi nhau thu vàng
Chìm trong ký ức miên man
Cánh chim di trú ngỡ ngàng xót xa
Chân mây ngập ánh chiều tà
Tìm nơi bờ cát gót ngà nay đâu
Biển xanh con sóng bạc đầu
Viễn du người đã bao lâu không về

Ta xin rời khỏi cơn mê
Để chiều ngồi chải tóc thề cho em...

5 tháng 9, 2013

Phôi pha


Phôi pha

Ngày xưa một khoảng trời xanh
Chiều thu ngọn gió mát lành cho em
Ngọt ngào ký ức êm đềm
Mênh mông nổi nhớ người thêm chạnh lòng

Biết chăng bến nước đục trong
Thương em cứ mãi long đong chuyện tình
Sao trời nay vẫn lung linh
Trăng non vừa hé lặng thinh trên đầu

Thu về vàng lá từ lâu
Xin em đừng đẫm lệ nhàu tràn mi
Xa rồi buổi ấy chia ly
Phôi pha ngày ấy thôi thì hãy quên...

4 tháng 9, 2013

"Quê hương xứ rượu Hồng Đào"


           Chào mừng Ngày Âm nhạc Việt Nam lần thứ IV (3-9-2013), vào tối ngày 3-9, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam tổ chức giới thiệu và ra mắt tập ca khúc “Quê hương xứ rượu Hồng Đào”. Đây là tập ca khúc gồm 32 tác phẩm được tuyển chọn từ hàng trăm tác phẩm của các nhạc sĩ Chi hội Âm nhạc (thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam).
Để viết nên tác phẩm, các nhạc sĩ đã trải qua khá nhiều chuyến đi thực tế, hòa nhập tâm hồn vào tình đất, tình người Quảng Nam.
          Tuy một số ca khúc vẫn còn hạn chế về giai điệu, ca từ nhưng có một giá trị chung nhất đó là tình yêu của người nghệ sĩ đối với quê hương xứ rượu Hồng Đào...

Dưới đây là một số hình ảnh của đêm ra mắt tập ca khúc "Quê hương xứ rượu Hồng Đào"








26 tháng 8, 2013

Màu thời gian

Màu thời gian


Một chút nhớ
một chút thương
Mây giăng giăng phố
ngập đường lá bay
Chiều lên
chếnh choáng men say
Để ta chợt nhớ những ngày hoa niên
Cái thời chưa biết sầu miên
Biết bao mộng đẹp giữa miền cỏ hoa
Nửa đời bỗng thấy xót xa
Nhuốm sương mái tóc
ánh tà huy bay
Thời gian
màu của bao ngày
Rêu phong
sỏi đá
đan tay ngậm ngùi  ...


20 tháng 8, 2013

Ánh trăng


Ánh trăng
Kính đâng hương hồn thân phụ

Vút cao hơn cả đỉnh non
Tình cha như ánh trăng tròn đêm thu
Soi đường con nẽo viễn du
Để con sống tốt đời dù chông gai

Tang bồng ngang dọc chí trai
Phải vừa dũng cảm vừa tài, trí, nhân...
Tình cha là ánh trăng ngần
Theo con đi suốt đường trần gian nan.

19 tháng 8, 2013

Trăng vỡ

Trăng vỡ



Lỡ tay đánh vỡ vầng trăng

Tìm đâu ra chốn chị Hằng nương thân

Thôi thì sa xuống hồng trần

Cuội già vẫn đợi ngoài sân đêm rằm.


12 tháng 8, 2013

Vu vơ

Vu vơ


Vu vơ

đi giữa ban chiều

Lá bay theo gió

lời yêu chưa đầy

Hoàng hôn

nhẹ tím màu mây

Gót chân phiêu lãng

còn đây bụi hồng...

6 tháng 8, 2013

Mơ     

Vô thường

một bóng giai nhân

Áo   xiêm     khoe     sắc

trắng     ngần      thướt      tha

Chiều  xưa  tóc   xỏa   mượt   mà

Giáng tiên  in  lại  gót ngà trong  mơ...


23 tháng 7, 2013

còn duyên

Còn duyên


Hồng   trần

người mãi lang thang

Làm     sao     bán    được

mênh      mang       nổi      sầu

Duyên   anh     giờ    có   còn  đâu

Còn duyên em đó mưa ngâu đừng buồn...



13 tháng 7, 2013

Mỹ Sơn - điểm đến hấp dẫn


Khu đền tháp Mỹ Sơn - Điểm đến hấp dẫn

          Mỹ Sơn, khu đền tháp quan trọng nhất của văn hóa Champa, là địa điểm thu hút các nhà nghiên cứu và khách du lịch tìm đến trong nhiều năm qua, nhất là sau khi khu di tích nầy được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.

          Từ Cửa Đại- Hội An, nhìn về phía Tây theo dòng sông Thu Bồn, chúng ta sẽ thấy một ngọn núi có hình dạng khá đặc biệt, đỉnh núi vút cong như một chiếc răng nanh, nhân dân địa phương thường gọi là núi Răng Mèo hoặc Núi Chúa. Những người đi biển thường xem ngọn Núi Chúa như là một tiêu điểm để định hướng đi về... Trong thung lũng dưới chân ngọn núi Răng Mèo có một quần thể kiến trúc nổi tiếng của vương quốc Champa- Khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn.
          Đặt chân đến thung lũng Mỹ Sơn, du khách sẽ thấy được triết lý âm - dương trong quan niệm của người Chăm cổ. Ngọn núi Răng Mèo (Tức núi Mahaparvata theo tên gọi của người Chăm)  chính là một Lingaparvata- một linga khổng lồ; còn thung lũng Mỹ Sơn được xem như một Đại Yoni, với dòng suối chảy ngang là khe Yoni như quan niệm của đạo Bà La Môn. Đó là lý do địa lý - tâm linh - phồn thực khiến người Chăm chọn thung lũng  Mỹ Sơn làm Thánh địa.
          Với một quần thể kiến trúc gồm hơn 70 công trình được xây dựng gần như liên tục trong suốt 9 thế kỷ, Mỹ Sơn có mặt hầu hết các phong cách kiến trúc trong nghệ thuật Champa. Trải qua sự tàn phá khốc liệt của thiên nhiên và chiến tranh, tuy ngày nay di tích không còn nguyên vẹn như xưa, nhưng khu tháp Chăm Mỹ Sơn vẫn được thế giới đánh giá rất cao. Một số công trình thuộc các nhóm tháp B, C, D, G đã và đang được gia cố, tu bổ, từng bước phục hồi lại diện mạo của trung tâm kiến trúc tôn giáo lớn nhất của vương quốc Champa.
          Mỹ Sơn không chỉ được mọi người biết đến bởi các công trình kiến trúc, nơi đây còn nổi tiếng với hàng trăm tác phẩm vô giá được làm bằng sa thạch, có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, trong đó có những tác phẩm có thể xem là kiệt tác của điêu khắc Champa như đài thờ Mỹ Sơn E1, phù điêu “Đản sinh Brahma”, tượng Ganesa... Đặc biệt, vào tháng 11 năm 2012, Ban Quản lý di tích Mỹ Sơn đã phát hiện một linga độc đáo bị vùi trong lòng đất gần tháp E4. Linga được làm bằng sa thạch màu vàng, phần trên của linga có đầu thần Siva- một hình tượng Mukhalinga trong Ấn Độ giáo. Có thể nói đây là tác phẩm điêu khắc độc đáo nhất và có niên đại rất sớm ở Mỹ Sơn (Khoảng thể kỷ VII-VIII).
           Nghệ thuật điêu khắc Chăm là sự kết hợp những yếu tố bản địa với các nền văn hóa bên ngoài một cách có chọn lọc và sáng tạo, đó là nền nghệ thuật mang tính tôn giáo, tuy nhiên vẫn thể hiện đậm nét văn hóa dân tộc, những chủ đề trong Ấn Độ giáo được cảm nhận theo kiểu riêng của người Chăm, hòa nhập với tục lệ địa phương, những tác phẩm điêu khắc được thể hiện theo tư duy thẩm mỹ của họ, không trùng lắp hoặc sao chép nguyên bản. Mỗi bức chạm, mỗi phong cách đều có vẻ đẹp riêng, bộc lộ tài năng của người nghệ sĩ; các tác phẩm được thể hiện trên gạch, đá nhưng không khô cứng lạnh lùng, mà ngược lại, chúng rất mềm mại và sống động. Mỗi phong cách nghệ thuật có một vẻ đẹp riêng, cho dù mỗi thời kỳ tư duy thẩm mỹ mỗi khác.
          Bên cạnh nghệ thuật tạc tượng trên sa thạch, người Chăm cổ còn có những tác phẩm điêu khắc thể hiện trực tiếp trên tường gạch, đó là những đường gờ cách điệu thành những tầng hoa sen, các dải hoa văn trang trí trên trụ ốp tường, trên thân tháp, trên những vòm cửa; những nét riêng biệt của các kiểu hoa văn trang trí trên tháp cho thấy nghệ thuật Chăm phát triển không ngừng, các nhà nghiên cứu xem hoa văn là một trong những tiêu chí để xác định niên đại của một ngôi tháp Chăm.
          Phần lớn các tác phẩm điêu khắc được khai quật sau năm 1980 tại Mỹ Sơn được trưng bày trong hai ngôi nhà dài (Mandapa) D1 và D2. Các cấu kiện kiến trúc bằng đá như trụ cửa, lanh tô được phát lộ trong quá trình trùng tu được trưng bày tại chỗ ở ngoài trời.
          Năm 2004, với sự tài trợ của Nhật Bản, một ngôi nhà trưng bày đã được xây dựng để giới thiệu một số hình ảnh, hiện vật có liên quan đến di tích và quá trình nghiên cứu, trùng tu Mỹ Sơn từ đầu thế kỷ XX đến nay... Tham quan phòng trưng bày nầy, du khách sẽ hiểu thêm về quá trình phát hiện, nghiên cứu và làm việc gian khổ của các nhà khoa học đã hết lòng vì Mỹ Sơn...
          Đáng chú ý là trong thời gian mấy năm gần đây, trong chương trình hợp tác với Lerici Foundation (Italia), cùng với việc nghiên cứu về Thông tin địa lý, tu bổ nhóm tháp G, nhiều hiện vật bằng sa thạch và đất nung đã được tìm thấy trong quá trình khai quật khảo cổ học. Trong tháng 6 nầy, tại Mỹ Sơn đã khai trương trưng bày tháp G và đón khách tham quan tháp sau khi kết thúc việc tu bổ tháp.
Khai trương phòng trưng bày hiện vật tháp G

           Cùng với giá trị văn hóa vật thể hiện tồn, Mỹ Sơn còn có những giá trị văn hóa phi vật thể từ xa xưa, sự hoang phế của di tích qua hàng trăm năm đã trở thành lớp bụi thời gian phủ lên những giá trị văn hóa đó. Những năm gần đây, với sự hợp tác của các nghệ nhân Chăm ở Ninh Thuận, một số giá trị văn hóa phi vật thể  đã được phục hồi và trở thành sản phẩm du lịch của Mỹ Sơn.
          Biểu diễn nghệ thuật Chăm là hoạt động văn hóa phi vật thể được tái hiện sinh động tại Khu di tích Mỹ Sơn. Những trích đoạn lễ hội Chăm, múa cung đình, múa dân gian được dàn dựng biểu diễn công phu đưa du khách vào thế giới vừa thực vừa hư của một nền nghệ thuật một thời vang bóng... Bên cạnh các điệu múa Apsara, múa dân gian, hòa tấu nhạc cụ, tiếng kèn Saranai với làn hơi dài như bất tận của cố nghệ nhân Trượng Tốn ông réo rắc vang lên nơi giữa núi rừng đã làm say lòng du khách. Trượng Tốn đã qua đời nhưng may mắn là ông đã có 2 truyền nhân, họ tiếp tục đưa tiếng kèn saranai vang xa...
Biểu diễn kèn Saranai

          Một điểm nhấn độc đáo trong văn hóa phi vật thể ở Mỹ Sơn là tái hiện “Đêm Mỹ Sơn huyền ảo”. Giữa thung lũng hoang sơ, Khu đền tháp Mỹ Sơn  bừng sống dậy trong đêm dưới ánh sáng lung linh huyền ảo. Trong điệu múa Apsara, các vũ công như mới thoát ra từ trong gạch đá, nhẹ nhàng uyển chuyển theo điều kèn saranai và trống ginăng làm mê hoặc lòng người,


Tại Mỹ Sơn, sau khi du khách tham quan các nhóm tháp Chăm, những người muốn khám phá thiên nhiên vùng thung lũng có thể tiếp tục đi dọc theo Khe Thẻ ngược về phía thượng nguồn; tại khu vực đó vẫn tồn tại một con đường mòn mà người dân địa phương thường đi lại để khai thác củi, con đường mòn nầy vượt qua eo núi dẫn đến một tuyến đường khác thuộc địa phận xã Duy Sơn nối liền với khu vực cố đô Trà Kiệu (Simhapura).
          Nếu du khách có sức khỏe và không ngại đi bộ xa, sẽ tham gia hành trình thám hiểm Núi Chúa. Khoảng 3 giờ leo núi, du khách sẽ lên đến đỉnh hòn Đền, từ đỉnh núi, chúng ta có thể nhìn bao quát cả thung lũng Mỹ Sơn, hoặc hướng ra biển nhìn Cù Lao Chàm ngoài khơi xa bằng kính viễn vọng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Hòn Đền từng là khu vực đóng quân của các cơ quan thuộc Đặc Khu Ủy Quảng Đà. Trong vùng nầy vẫn còn một số hang động mà trước đây được quân Giải phóng sử dụng để làm nơi trú ẩn; tham quan các địa điểm nầy, du khách có điều kiện tìm hiểu cuộc sống gian khổ nhưng hào hùng của quân Giải phóng trong kháng chiến…
          Mới đây, dịch vụ Homestay đã được khai trương ở xã Duy Phú, gần khu đền tháp Mỹ Sơn. Lưu trú qua đêm tai các ngôi nhà dân với tiện nghi thoải mái, du khách có đủ thời gian để tham quan di tích và tham gia các hoạt động dã ngoại, leo núi cùng một số sinh hoạt lao động sản xuất của cư dân địa phương.

          Cùng với những giá trị văn hóa vốn có của khu đền tháp Mỹ Sơn, các sản phẩm du lịch mới và các dịch vụ ngày càng hoàn thiện, chắc rằng Mỹ Sơn sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước.


8 tháng 7, 2013

Áo xưa

Áo xưa



Màu chiều dù có xa xôi

Ngàn năm mây trắng vẫn trôi mượt mà


Nhớ thời áo lụa thướt tha


Vấn vương ngày ấy gót ngà mộng du...




1 tháng 7, 2013

Từ hôm

Từ hôm…

Từ hôm lá cỏ héo gầy
Người đi mới biết ngàn mây đang chờ
Từ hôm em biết mộng mơ
Xa rồi cơn gió vu vơ cánh diều
Từ hôm bến vắng đìu hiu
Thuyền đang viễn xứ trong chiều hoang vu
Từ hôm trời thoáng sa mù
Chắc là nơi ấy mùa thu đã về

Mưa rơi ướt đẫm sơn khê
Biết rằng từ ấy suối về với sông...


28 tháng 6, 2013

Cà phê một mình


Cà phê một mình


Từng giọt long lanh, từng giọt rơi
Cà phê ngọt - đắng vương bờ môi
Đâu đây tiếng nhạc như sầu lắng
Niệm khúc muôn trùng xa vắng thôi
Em đi lối nhỏ phai màu nắng
Để thoáng u hoài trong mắt ai

Mưa rơi xóa dấu trang đài
Còn đây phố cũ một mai em về...

19 tháng 6, 2013

Đại ngàn



Đại ngàn


Người đi giữa chốn xa mù
Qua miền thượng ấy đã lâu chưa về
Bao năm góp nhặt tình quê
Mưa giăng đầu núi tỉ tê non ngàn
Suối nguồn vẫn chảy dọc ngang
Trường Sơn màu nắng ngập tràn rừng xanh
Hoàng hôn cơn gió mát lành
Áo người lữ thứ long lanh bụi đường
Mây chiều vương
núi mờ sương
Bập bùng ánh lửa
        nhà gươl*
rượu cần
Say men vòng múa lâng lâng
Tâng-tung, Ya-yá bước chân rộn ràng**
Thâu đêm nhịp cồng chiêng vang
Hòa trong muôn sắc đại ngàn nguyên sơ...
                                                                              
--------
* Gươl : ngôi nhà làng truyền thống của dân tộc Cơ Tu
** Tâng-tung, Ya-yá : Điệu múa của dân tộc Cơ Tu



2 tháng 5, 2013

Đất ngập nước ở Quảng Nam


Đất ngập nước- nguồn tài nguyên quý giá ở Quảng Nam



Theo Công ước RAMSAR, đất ngập nước là  
“Những vùng đầm lầy, sình lầy, vùng đất than bùn
 hoặc có nước, bất kể tự nhiên hoặc nhân tạo,
có thể tồn tại lâu dài hoặc tạm thời, vùng nước tĩnh
hoặc nước chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn,
kể cả những vùng nước biển có độ sâu
không quá 6 mét khi thủy triều thấp”.

Các nhà địa chất cho rằng vùng đồng bằng ven biển nước ta được hình thành vào đầu kỷ Đệ Tứ (cách ngày nay khoảng 2 triệu năm), hiện tượng tân kiến tạo đã tác động mạnh vào quá trình hình thành vùng đất nầy; vận động nâng lên của nền đá gốc làm cho biển lùi ra xa, tạo điều kiện cho phù sa sông và phù sa biển tích tụ dần trong hàng ngàn năm, dần dần lấp đầy các vụng biển nông cổ. Các vụng biển được lấp đầy, song vẫn để nhiều bãi bồi ven biển, rừng ngập mặn, đầm, phá... Sâu trong lục địa, suốt từ miền Bắc đến miền Nam, hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt cùng với nhiều hồ, đầm tự nhiên lẫn nhân tạo đã hình thành nên một hệ sinh thái đất ngập nước phong phú và là nguồn tài nguyên rất quý giá của Việt Nam.
          Những vùng đất nầy cung cấp một  số lượng rất lớn nguồn thủy sản nước ngọt và nước lợ như cá, tôm, cua, nghêu, sò, các loài thực vật thủy sinh, cây vùng ngập mặn như sú, vẹt, đước, bần... Đây là môi trường sinh sống của một số loài chim di trú như vịt trời, cò, vạc, le le...  Phần lớn lúa, gạo, và các loại cây lương thực khác được canh tác từ những vùng đất ngập nước, nhất là 2 vựa lúa của nước ta là vùng châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long. Ngoài ra, đất ngập nước còn có vai trò quan trọng trong điều hòa thiên nhiên và môi trường, ổn định mực nước ngầm, thoát nước lũ, chống xói lở bờ biển...
          Do tầm quan trọng của việc bảo tồn các vùng đất ngập nước, vào năm 1971, tại Iran, Công ước quốc tế RAMSAR đã ra đời với sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới. RAMSAR đã yêu cầu 92 nước thành viên của mình có kế hoạch khoanh vùng và bảo vệ các vùng đất ngập nước, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các vùng đất này.
          Hiện nay, Việt Nam có bốn khu vực đất ngập nước đã được công nhận theo công ước Ramsar, bao gồm Vùng dự trữ ngập mặn Xuân Thủy thuộc tỉnh Nam Định, Hồ Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn, Bàu Sấu thuộc rừng quốc gia Cát Tiên- tỉnh Đồng Nai và Rừng quốc gia Tràm Chim ở tỉnh Đồng Tháp, và mới đây, Công viên quốc gia Mũi Cà Mau cũng đã được chính thức công nhận là khu vực bảo tồn theo công ước Ramsar.

Trong điều kiện tự nhiên chung của cả nước, Quảng Nam là tỉnh có diện tích đất ngập nước khá lớn, phân bố rộng khắp từ vùng đồng bằng ven biển lên đến miền núi.
          Ở vùng đồng bằng và cửa sông, ven biển, đất ngập nước của Quảng Nam khá phong phú về loại hình. Dọc theo bờ biển, dòng Trường Giang kéo dài từ Đà Nẵng vào tận huyện Núi Thành- Quảng Nam dài ngót 90km. Từ ngàn xưa Trường Giang đã là một trong những con đường thủy huyết mạch của Quảng Nam-Đà Nẵng. Dòng sông nầy là nơi sinh sống của nhiều loại cá, tôm, cua nước lợ có giá trị kinh tế cao, cư dân sống trên đôi bờ con sông đã kết hợp nghề nông với đánh bắt thủy sản trên sông. Nhiều bến sông, chợ ven sông được hình thành như Bàn Thạch, Lạc Câu, Chợ Bà, Chợ Được, Bến Đá, Tam Ấp... Là con sông nước lợ, với những bãi bồi dọc đôi bờ, cảnh quan Trường Giang thay đổi theo từng vùng, có nơi hai bên bờ mọc đầy dừa nước, có nơi sông uốn lượn qua những cánh đồng lúa xanh rờn, có khi đôi bờ lại là những cồn cát trắng.
          Vào mùa mưa lũ, những dòng nước cuồn cuộn từ vùng thượng nguồn đổ xuống làm cho nhiều nơi ở vùng đồng bằng Quảng Nam chìm trong nước lụt, lúc nầy sông Trường Giang trở thành cửa thoát lũ hiệu quả của đồng bằng phía Nam sông Thu Bồn. Chính vì là cửa thoát lũ, song nước chỉ thoát ra ba cửa sông nằm cách xa nhau, do đó nước không thể tháo nhanh ra biển, một khối lượng lớn phù sa đã dần dần tích tụ lại dần dần bồi lấp sông Trường Giang.
          Trải qua hàng trăm năm, do tác động của thiên nhiên và cả bàn tay của con người, Trường Giang không còn là thủy lộ quan trọng của đất Quảng. Nhiều đoạn bị bồi lấp, xâm thực bởi lũ lụt, nhiều chỗ bị cây cỏ ven bờ phát triển mạnh lấn dần ra làm hẹp dòng sông; cũng không ít chỗ bị một số người lấn sông be bờ làm hồ nuôi tôm, làm cầu bắt qua sông, đặt sáo nò, chơm, rớ..., khiến sông ngày càng bị thu hẹp và cạn dần... Bên cạnh đó, nước thải từ các khu công nghiệp chưa được xử lý đổ thẳng ra sông, sự ô nhiểm đã đến mức báo động đỏ. Các loài thủy sinh không thể phát triển như xưa kia; cá, tôm ở Trường Giang ngày càng trở nên hiếm hoi.
UBND tỉnh Quang Nam đã tổ chức hội thảo khoa học nhằm tìm biện pháp phục hồi sông Trường Giang. hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, việc thực hiện dự phục hồi con sông này mà còn góp phần quan trọng để thực hiện thành công Dự án tổng thể sắp xếp dân cư phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn Quảng Nam. Tháng 12 năm 2012, UBND tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đã làm việc để xúc tiến triển khai dự án khơi thông sông Cổ Cò, hai địa phương đã thống nhất chung về quy hoạch và đầu tư.  Dự án hoàn thành sẽ kết nối tuyến giao thông đường thủy từ Đà Nẵng tới đô thị cổ Hội An, một dòng sông, vốn đã gắn với lịch sử văn hoá của hai địa phương, sẽ trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn của cả Quảng Nam và Đà Nẵng... Từ bến sông Hội An, du khách đi thuyền có thể sang nhánh sông Cổ Cò, từ đó dọc theo hướng bắc đến tận vùng núi Ngũ Hành Sơn và ra cửa Hàn của Đà Nẵng; hoặc xuôi hướng nam theo dòng Trường Giang vượt qua vùng Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ vào tận cửa An Hòa, dọc hai bên bờ sông, có biết bao câu chuyện hay về đất và người xứ Quảng mà ta có thể khai thác trong kho tàng văn học dân gian để kể cho du khách nghe như truyền thuyết về Bà Chợ Được và lễ hội rước cộ Bà ở Thăng Bình; những câu chuyện cười thâm thúy của Thủ Thiệm ở Tam Hòa; những kỳ tích của vành đai diệt Mỹ Chu Lai và Chiến thắng Núi Thành...
Rừng dừa 7 mẫu thuộc xã Cẩm Thanh Hội An. Cách phố cổ 3 km về phía Đông, xưa kia vùng nầy có khoảng 7 mẫu dừa nước nên dân địa phương gọi là Rừng dừa 7 mẫu. Tương truyền, cây dừa nước được trồng ở Cẩm Thanh cách nay khoảng 200-300 năm, ngày xưa những người đi ghe bầu ở Hội An đã vào tận đất Nam bộ buôn bán, đem giống dừa nước về trồng, trải qua hàng trăm năm, dừa nước phát triển triển thành rừng, đến nay, diện tích vùng rừng dừa đã tăng lên gần 100ha, cánh rừng dừa bạt ngàn trải dài  từ thôn 1 ra đến gần Cửa Đại. Đây là vùng nước ngập mặn nên rất phong phú các loại động - thực vật nước lợ, nhất là các loài tôm, cua, ghẹ và động vật thân mềm. Các thảm cỏ biển là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản. Vùng rừng ngập mặn này được ví như “lá phổ xanh” của Hội An, là một máy lọc sinh học, tích tụ và phân hủy chất thải, làm trong sạch nguồn nước sinh hoạt trước khi đổ ra biển. Năm 2009 UNESCO đã công nhận Hội An – Cù Lao Chàm là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, trong đó có Rừng dừa 7 mẫu. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Rừng dừa 7 mẫu là nơi che chở cho lực lượng cách mạng hoạt động ở vùng Đông Duy Xuyên và Hội An. Ngày nay, một bộ phận dân Cẩm Thanh sinh sống nhờ cây dừa nước. Thân cây dừa, tàu dừa có thể làm củi đun, quả dừa có thể ăn; đặc biệt lá dừa nước dùng lợp nhà rất tốt, những năm gần đây, phong trào lợp quán xá bằng lá dừa rộ lên, tạo điều kiện cho nghề lợp lá dừa phát triển...
Đến Rừng dừa 7 mẫu, du khách sẽ ngược xuôi trên dòng sông có cảnh quan như vùng kênh rạch Nam bộ, tham quan làng dừa Bảy Mẫu- một ngôi làng nhỏ nằm giữa rừng dừa, tìm hiểu đời sống của nông dân và ngư dân, tham gia vào cuộc sống của người dân địa phương như làm ruộng, bủa lưới, chèo thuyền... thưởng thức những món hải sản tươi rói, đốt lửa trại trên bãi biển trong xanh. Đến vùng nầy vào khoảng tháng 9, du khách sẽ được tận mắt ngắm nhìn những cụm trái dừa nước chín vàng trên cây, và tự tay hái những trái dừa chín...
 Bãi Sậy - Sông Đầm là một vùng đầm rộng khoảng 180ha, trong đó diện tích mặt nước khoảng 140ha, chung quanh lau sậy mọc phủ kín, thuộc các xã Tam Thăng, Tam Phú và phường An Phú. Sông Đầm nguyên là một đoạn sông cổ bị bồi lấp đã trở thành một hồ nước, đang trong giai đoạn phát triển cuối cùng của nó, độ sâu giảm dần so với mực nước ban đầu, tạo điều kiện cho các loài thực vật ưa nước như lau, sậy, rong, rêu... phát triển; lớp thực vật nầy chết đi trở thành nền cho lớp thực vật khác mọc lên trên, theo thời gian chúng xếp thành từng lớp; trong quá trình phân huỷ các chất hữu cơ, xác các loài thực vật biến thành than bùn... Trước đây, khu vực Bãi sậy - Sông Đầm là nơi cư trú của nhiều loại chim như cò, diệt, bồ nông, bói cá, le le... Nhiều loại cá, tôm, cua nước ngọt, là nguồn thực phẩm dồi dào cung cấp cho nhân dân trong vùng.
Từ sau năm 1954, vùng lau sậy mênh mông ở Sông Đầm là nơi trú ẩn của các cán bộ kháng chiến ở các xã lân cận tránh sự truy lùng của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đến giữa năm 1964, vùng giải phóng được mở rộng, trong lúc nhân dân Kỳ Anh chưa đào hệ thống địa đạo thì Bãi Sậy - Sông Đầm đã trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của vùng Đông Tam Kỳ. Trong những năm qua, do tác động của con người, lau sậy đã dần biến mất, dẫn đến sự thay đổi về sinh cảnh, một số loài động vật vùng đầm hồ cũng không còn nữa.
Trong xu hướng mở rộng thành phố Tam Kỳ về phía đông, chúng ta cần quan tâm đến bảo tồn và phục hồi cảnh quan của Bãi Sậy - Sông Đầm, đây chính là “lá phổi xanh” của đô thị mới, không những vậy, một khi được phục hồi sinh cảnh, các loài chim trước đây đã sinh sống trong khu sống Đầm sẽ trở về, các loại cá, tôm sẽ phục hồi... vùng nầy có nhiều khả năng trở thành một điểm du lịch sinh thái của Tam Kỳ.
          Hồ Phú Ninh vùng đất ngập nước nhân tạo, là công trình đại thủy nông của Quảng Nam, có diện tích mặt nước 3.433 ha và hơn 23.000 ha rừng phòng hộ. Công trình được xây dựng vào năm 1977 và hoàn thành vào năm 1986.  Hồ có sức chứa 344 triệu m³ nước phục vụ tưới cho 23.000 ha đất nông nghiệp ở các huyện phúa nam Quảng Nam  Rừng phòng hộ Phú Ninh có thành phần thực vật khá phong phú, với khoảng 360 loài thực vật, bao gồm các loại cây thuôc, cây cho gỗ, cấy ăn quả, cây thực phẩm, cây nguyên liệu công nghiệp, trong đó có 10 loài thực vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Hệ động vật ở vùng hồ Phú Ninh gồm nhiều nhóm: Lưỡng cư, bò sát, chim, thú với 148 loài; nhóm cá có 14 loài; hệ côn trùng ở vùng hồ có 150 loại, trong đó nhiều côn trùng có màu sắc đẹp... Động vật quý hiếm có Khỉ mặt đỏ, chó sói, gấu ngựa, sơn dương, tê tê,... Đặc biệt ở đây có 11 loài thú được ghi trong Sách đỏ cần được bảo vệ...
          Ngoài ra, Quảng Nam còn có các con sông lớn như Vu Gia, Thu Bồn, sông Tranh, A Vương, cùng nhiều con sông nhỏ chằng chịt từ vùng rừng núi phía tây đổ xuống; nhiều kênh, suối, đầm, hồ; các ô ruộng trũng rãi rác kéo dài từ huyện Điện Bàn vào đến Núi Thành, ngập nước theo mùa, những khu vực nầy cũng cung cấp một lượng cá, tôm... dồi dào cho nhân dân địa phương...

Mặc dù những vùng đất ngập nước có tác động rất lớn đến đời sống con người và loại động- thực vật, nhưng tác động tiêu cực của con người trong khai thác tự nhiên, kết hợp với hiện tượng biến đổi khí hậu, đã ảnh hưởng rất xấu đến sự tồn tại của các vùng đất ngập nước. Theo Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) Achim Steiner, diện tích các vùng đất ngập nước trên toàn thế giới đã bị thu hẹp một cách đáng báo động tới 50% trong vòng 100 năm qua, kể từ năm 1900, đe dọa phúc lợi của con người trong khi tình trạng khan hiếm nước ngọt ngày càng tăng.(*) Ở nước ta, các vùng đất ngập nước đang dần bị thu hẹp do các hành động tiêu cực như chuyển đổi đất ngập nước thành đất canh tác, chặt phá rừng ngập mặn ven biển để nuôi tôm, san lấp đất ngập nước để xây dựng công trình...
Các hệ sinh thái đất ngập nước ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống hiện tại và tương lai của con người. chính vì thế,  chúng ta phải nhận thức được mối liên hệ giữa đất ngập nước với cuộc sống, từ đó, có những hành động tích cực để bảo tồn và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vô giá nầy.
Ngày nay, bên cạnh các loại hình du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, khách du lịch rất ưa thích các hình thức du lịch xanh, du lịch sinh thái, chính vì thế các vùng đất ngập nước là nguồn tài nguyên phong phú để phát triển du lịch.
Trước sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch, chúng ta không thể không quan tâm đến việc bảo vệ sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên đất ngập nước. Phải tạo ý thức và hành vi ứng xử đúng đắn của cộng đồng dân cư và du khách đối với tự nhiên, đồng thời phải tạo sinh kế mới, bảo đảm thu nhập và nâng cao đời sống người dân bản địa, Du lịch sinh thái cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, vì thế phải gắn việc xây dựng cơ sở vật chất với việc tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ môi trường, đồng thời hưỡng dẫn cho người dân địa phương chuyển đổi nghành nghề, tham gia làm du lịch cộng đồng. Để giữ cho môi trường các khu du lịch không bị ô nhiểm, các cơ quan, tổ chức kinh doanh du lịch phải đầu tư thỏa đáng cho việc xử lý chất thải rắn cũng như nước thải trong các nhà hàng, khách sạn, xử lý xăng dầu trong các khu vực neo đậu tàu thuyền; không xây dựng các công trình lưu trú cao tầng trong vùng đất ngập nước mà thay vào đó là những công trình thân thiện với môi trường

Phát trin du lịch bền vững có thể góp phần bảo tồn các vùng đất ngập nước, phát triển kinh tế địa phương, nâng cao đời sống người dân trong vùng. Du lịch được quản lý tốt sẽ tạo ra các nguồn tài chính giúp bảo vệ những vùng đất ngập nước; ngược lại các vùng đất ngập nước được bảo vệ tốt thì sẽ tạo ra các sản phẩm phục vụ phát triển du lịch bền vững.


-------

 (*) Việt Tú - Vietnam+, 18/10/2012


Hồ Phú Ninh

Một đoạn sông Bàn Thạch
Rừng dừa Bảy mẫu
(Nguồn Internet)