25 tháng 1, 2014

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

NHÂN DỊP XUÂN GIÁP NGỌ, TƯ CẬN XIN CHÚC BẠN BÈ BLOG GẦN XA MỘT NĂM MỚI VẠN SỰ NHƯ Ý




 

24 tháng 1, 2014

Long mã trên gốm Chu Đậu

Long mã trên gốm sứ Chu Đậu.
    
          Trong nghệ thuật Trung Hoa, long mã là một hóa thân của kỳ lân, được thể hiện dưới dạng con vật có đầu tựa rồng thân ngựa, chân hươu. Long mã thường được thể hiện theo điển tích “Long mã phụ Hà đồ”, trên lưng linh thú phủ một tấm Hà đồ, dưới chân là sóng nước, phía trên mây vờn quanh. Tương truyền, vào đời vua Phục Hy ở Trung Hoa (năm 2852-2737 trước CN), có một trận giông lớn nổi lên trên sông Hoàng Hà, nước sông dâng cao, đột nhiên một quái thú đầu rồng mình ngựa xuất hiện đứng trên mặt nước, con vật mang theo thanh bảo kiếm, trên lưng nó có nhiều đốm xếp theo một trật tự đặc biệt. Dân chúng thấy chuyện lạ, liền cấp báo cho vua Phục Hy. Vua Phục Hy đến nơi và nhận ra đó là con Long mã, một loại linh thú hiếm khi xuất hiện. Ngài phán rằng: “Nếu ngươi đem báu vật đến dâng cho ta thì hãy đến trước mặt ta.” Nghe xong, long mã lướt vào bờ, đến trước mặt vua Phục Hy quì xuống. Nhà vua đón nhận bảo kiếm và ghi nhớ những đốm trên lưng con vật. Dâng báu vật xong, long mã quay trở ra sông và biến mất. Vua Phục Hy vẽ lại những đốm trên tấm da tạo thành một bức đồ, đặt tên là Hà đồ. Sau đó, nhà vua xem Hà đồ, kết hợp với quan sát thiên tượng, đã vẽ ra  Bát Quái Đồ, gọi là Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng điển tích “Long mã phụ hà đồ” có liên quan mật thiết với nguồn gốc Kinh Dịch, từ đó, phần lớn các bức vẽ Long mã đều thể hiện hình Bát Quái Tiên thiên trên lưng linh thú này.
          Long mã là sự kết hợp giữa ngựa và rồng. Theo quan niệm của người Đông phương, Long (rồng) là một linh vật, thường ở trên trời, mạnh mẽ, linh hoạt, thống trị không gian, được xem là nguyên lý Dương. Mã (ngựa), mặc dù không phải là linh vật, nhưng là con vật hữu ích cho loài người, có sức bền bỉ, có nghĩa với chủ, chạy nhanh, biểu tượng cho thời gian và nguyên lý Âm. Sự kết hợp rồng và ngựa vào Long mã là sự kết hợp của Âm - Dương, biểu hiện sự chuyển hóa không ngừng trong vũ trụ.
          Ở Việt Nam, long mã thường được thể hiện dưới dạng phù điêu trang trí trên bình phong các nhà thờ tộc, đình, chùa, miếu... để tăng sự tôn nghiêm, linh thiêng cho công trình kiến trúc. Hình tượng long mã còn được các nghệ sĩ dân gian mô tả trên các tác phẩm gốm sứ; đặc biệt, trong số hàng ngàn cổ vật thuộc dòng gốm sứ Chu Đậu đã được tìm thấy, bên cạnh các bức vẽ cảnh sơn thủy, hoa lá, chim, thú, tôm, cá... hình tượng long mã xuất hiện dưới hình dạng độc đáo riêng có trên gốm cổ Việt Nam.
          Trên một chiếc liễn men trắng vẽ hoa lam, cùng với dải hoa văn cánh sen cách điệu, long mã được thể hiện dưới dạng cổ điển, tuy nhiên không đứng trang nghiêm như long mã ở các bức bình phong, người nghệ sĩ dân gian đã phóng bút vẽ một long mã tung vó phi trong mây, con vật có đầu rồng với 2 sừng dài, thân hình ngựa phủ vảy rồng, chiếc đuôi xoắn của kỳ lân. Những đám mây quanh long mã cách điệu hình đao lửa (đám mây xoắn cuộn kết hợp hình đao ngọn lửa), đôi cánh như một đám mây đao lửa kéo dài từ ức lên lưng long mã và tung bay về phía sau.

 
            Một dạng long mã khác mang đậm chất ngựa hơn, đó là bức vẽ long mã trên một thạp gốm men trắng hoa lam. Trên vai và phân chân thạp trang trí văn cánh sen cách điệu quen thuộc của gốm Chu Đậu. Phần giữa thân thạp là một long mã đang phi nước đại giữa đám mây cuộn. Con long mã nầy không theo kiểu truyền thống như trong nghệ thuật Trung Hoa. Với nét vẽ đầy chất ngẫu hứng, phóng khoáng, người họa sĩ dân gian đã thể hiện một con ngựa có cánh gần giống với con ngựa bay Pegasus trong thần thoại Hy Lạp, đôi cánh ngựa cách điệu, tạo đường viền như một dải mây; trên mình ngựa cũng vẽ nhiều đốm lớn nhỏ xen lẫn nhau, phần đầu ngựa được thể hiện khác lạ, phần mõm khá dữ tợn, dường như đang hóa dần thành đầu rồng. Phần khớp gối của 2 chân sau phủ túm lông như chân kỳ lân.

          Trên một chiếc đĩa men tam thái lớn, vành đĩa tạo hình cánh sen, giữa lòng đĩa thể hiện một con ngựa có cánh dài đang tung vó bay trong mây, con long mã nầy cũng mang đậm chất ngựa như bức vẽ trên thạp gốm. Long mã và các đám mây được bố cục theo dạng tròn, đầu long mã vươn cao, nét phóng bút nhẹ nhàng khiến bức vẽ long mã trở nên linh hoạt hơn, khiến người xem có thể hình dung long mã đang chuyển động theo vòng tròn trên bầu trời.

          Một tác phẩm vẽ long mã khác cũng rất lạ, trên một chiếc đĩa men trắng hoa lam, một con ngựa có cánh đang sải vó phi nước đại, bao quanh long mã là những đám mây cách điệu hình đao lửa. Nét độc đáo ở đây là đôi cánh ngựa cũng mang hình đám mây đao lửa, cổ ngựa vươn cao, động tác toàn thân như đang chuyển theo vòng tròn.
















    
         Được vẽ bằng bút pháp phóng khoáng, long mã trên gốm cổ Chu Đậu không theo lối truyền thống trong nghệ thuật Trung Hoa, các nghệ nhân Việt xưa kia đã thể hiện sự sáng tạo tài hoa, nâng cao giá trị cho các sản phẩm; mỗi bức vẽ có bố cục riêng đầy ngẫu hứng, đó không chỉ là vật dụng bằng gốm sứ cao cấp mà còn là những tác phẩm hội họa có giá trị nghệ thuật...

 






 

2 tháng 1, 2014

Tuấn mã và ngựa thồ



TUẤN MÃ VÀ NGỰA THỒ

          Những con ngựa đầu tiên được loài người thuần dưỡng vào khoảng 4000-4500 TCN, các nhà nghiên cứu cho rằng ngựa đã được nuôi phổ biến ở châu Âu vào khoảng 3000 TCN-2000 TCN. Ban đầu, có lẽ ngựa được thuần dưỡng để làm vật kéo xe hoặc thồ hàng, sau đó thấy được sự nhanh nhẹn và khả năng chở nặng của ngựa, người ta đã sử dụng ngựa làm vật cỡi. Khi các chiến binh sử dụng ngựa thành thạo, tung hoành trên chiến trường hữu hiệu, một số quốc gia  đã thành lập lực lượng kỵ binh, đôi quân cực kỳ cơ động này đã tăng ưu thế quân sự cho các quốc gia cổ đại.
          Mùa xuân năm 334 Trước Công Nguyên, Alexandre Đại đế của Macedonia  lãnh đạo đại binh tấn công nước Ba Tư. Trong trận Gaugamela đẫm máu, lực lượng của đế quốc Ba Tư có voi chiến, hàng ngàn chiến xa do ngựa kéo, rất nhiều kỵ mã và bộ binh, chiếm ưu thế hơn so với quân Macedonia, Alexandre Đại đế đã tung 7.000 kỵ binh thiện chiến và 40.000 bộ binh vào trận. Nhờ lực lượng cơ động thần tốc, quân Macedonia đã khiến cho quân Ba Tư hoảng loạn tháo chạy tan tác. Gắn với các chiến công của Macedonia, phải nói đến con ngựa Bucephalas nổi tiếng của Alexandre Đại đế, đây là con chiến mã đã đưa vị vua trẻ tung hoành ngang dọc trên chiến trường, chinh phục cả đế quốc Ba Tư hùng mạnh.
          Thời Tam Quốc bên Trung Hoa, một con ngựa nổi tiếng đã đi vào truyền thuyết-  ngựa Xích Thố, con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, một ngày có thể đi ngàn dặm, khi xông pha sa trường thì nhanh như chớp. Con ngựa nầy nguyên là của Đổng Trác tặng cho Lữ Bố. Lúc Lữ Bố chết, Tào Tháo biết là ngựa quý cho người chăm sóc, sau tặng lại cho Quan Vân Trường (Quan Công). Quan Vân Trường cưỡi ngựa Xích Thố qua năm ải, chém sáu tướng. Hình tượng Quan Công thường được thể hiện gắn với thanh Long đao và ngựa Xích Thố. Cùng thời này, còn có con ngựa Ô Truy của Hạng Võ đã trung thành với chủ đến giờ phút cuối cùng...
          Vào thế kỷ 13 sau Công nguyên, vó ngựa quân Mông Cổ tung hoành khắp lục địa Âu, Á. Giống ngựa vùng thảo nguyên Mông Cổ vóc dáng nhỏ hơn ngựa Trung Nguyên song chúng sức chịu đựng dẽo dai, có thể thích nghi tốt với khí hậu cận nhiệt đới. Với sức mạnh kỵ binh, quân Mông Cổ đã xâm chiếm nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn ở châu Âu, châu Á. Tưởng chừng sức mạnh của đội quân Nguyên Mông là bất khả chiến bại, song, khi tiến quân xuống phía Nam Trung Hoa, xâm lược Đại Việt, đội quân thiện chiến của Hốt Tất Liệt đã bị chặn đứng và đánh bại. 
          Trong cuộc kháng chiến chống Mông Cổ, bên cạnh bộ binh, thủy binh và tượng binh, quân Đại Việt cũng sử dụng ngựa trong chiến trận. Mặc dù ngựa Việt nhỏ thó nhưng vẫn có những chiến mã cùng với chủ lập nên những chiến công lẫy lừng.  Lê Phụ Trần là danh tướng đời Trần Thái Tông, nguyên ông tên là Lê Tần, hoặc Lê Tân Trần, sau được Trần Thái tông ban tên là “Phụ Trần” để tưởng thưởng công lớn trong cuộc kháng chiến chống quan Nguyên-Mông. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, ngày 12 tháng 12 âm lịch năm 1257, quân Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Ngột Lương Hợp Thai từ Vân Nam xuôi theo sông Hồng tràn vào Đại Việt. Vua Trần Thái Tông thân hành đốc chiến, xông pha tên đạn. Thế giặc mạnh, quan quân ta hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần một mình một ngựa, xông vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không...
          Những con ngựa đẹp, có tốc độ nhanh thường được gọi với danh từ mỹ miều: Tuấn Mã. Những con tuấn mã không chỉ được ghi chép trong lịch sử mà còn đi vào thi ca, nhạc họa.
          Trong thi ca Việt Nam, tác phẩm Chinh phụ ngâm có đoạn:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu...

          Chỉ có 4 câu thơ đã thể hiện được sự oai hùng, kiêu bạt của người chiến binh xông pha chốn sa trường trên lưng ngựa, không sợ hy sinh.
          Trung Hoa có bức họa Bát tuấn đồ lấy từ điển tích tám con ngựa kéo xe của Mục Vương (1001 – 746 trước CN), vị vua thứ năm của nhà Chu. Tương truyền, cỗ xe 8 ngựa kéo của Mục Vương đã đưa nhà vua rong ruổi khắp vương quốc để xem xét dân tình. Chu Mục Vương được hậu thế tôn là minh quân, bởi ông đã có công làm cho nhà Chu hưng thịnh trở lại. Bạch Cư Dị, thi sĩ nỗi tiếng Trung Hoa thời nhà Đường đã có bài thơ Bát tuấn đồ:
Mục Vương bát tuấn thiên mã câu,
Hậu nhân ái chi tả vi đồ.
Bối như long hề cảnh như tượng,
Cốt tủng cân cao chỉ nhục tráng.
Nhật hành vạn lý tật như phi,...

Ngô Văn Phú dịch:
Đời Mục Vương, tám con ngựa đẹp,
Người đời sau, chuộng vẽ nên tranh.
Lưng như rồng chừ cổ như voi,
Xương vững, gân bền, cơ bắp khoẻ.
Như bay, ngày đi ngàn dặm nhanh,..

          Bức họa Bát tuấn đồ được nhiều họa sĩ mô phỏng, lấy cảm hứng tạo thành nhiều bố cục khác nhau với ý nghĩa “Mã đáo thành công”.
          Trong âm nhạc, ở nước ta có 2 ca khúc rất sôi động có liên quan đến ngựa của nhạc sĩ Lê Yên: “Ngựa phi đường xa” và “Kỵ binh Việt Nam”. Nghe giai điệu và ca từ  của bài hát, ta tưởng chừng như nghe tiếng vó câu của đoàn kỵ mã đang dập dồn phi trên đường xa...
          Trong hàng trăm con ngựa, chỉ có vài con ngựa xứng danh tuấn mã, còn lại, đa số là ngựa kéo, ngựa thồ. Không lẫy lừng như tuấn mã nhưng những con ngựa thồ, ngựa kéo đã âm thầm làm lợi cho chủ, hàng hóa được vận chuyển từ nơi nầy sang nơi khác, phát triển giao thương giữa các vùng, các quốc gia; đặc biệt là ngựa thồ đã góp phần không nhỏ vào việc vận tài hàng hóa trên “Con đường tơ lụa”, xuất phát từ Trung Hoa qua các nước Mông Cổ, Ấn Độ, Afganistan, Thổ Nhỉ Kỳ, Hy Lạp...
          Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế, rất cần những người tài năng, nhanh nhẹn như tuấn mã để đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh; đồng thời cũng rất cần những người cần cù, chăm chỉ như những chú “ngựa thồ” ngày đêm âm thầm lao động miệt mài làm ra của cải cho xã hội, trong những năm qua, chính lực lượng lao động nầy đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước.
          Nếu không đủ sức trở thành “tuấn mã” tung hoành trên chính trường hoặc thương trường thì ta cũng hãy vui vẻ làm những “ngựa thồ” lặng lẽ góp phần công sức nhỏ bé của mình vào việc kiến thiết, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh hơn, tươi đẹp hơn...